Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

Các loại doanh nghiệp công lập

Chào mừng các bạn đến với bài viết hôm nay! Trong thế giới kinh doanh đa dạng và phát triển ngày càng nhanh, các loại hình doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ về các loại doanh nghiệp này và cách hoạt động của chúng. Vì vậy, trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các loại doanh nghiệp nhà nước và những đặc điểm độc đáo của chúng. Hãy cùng khám phá và tìm hiểu thêm về chủ đề thú vị này!

Chia sẻ

1. Sự phát triển lịch sử của việc thành lập các tổ chức kinh doanh công của chính phủ tại Việt Nam.

Các quốc gia trên thế giới đều duy trì một số lượng nhất định các công ty nhà nước. Các công ty này thường hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến an ninh, quốc phòng, cung ứng dịch vụ công cộng quan trọng, những lĩnh vực kinh tế quan trọng hoặc những lĩnh vực đòi hỏi nhiều vốn đầu tư và ít lợi nhuận mà các công ty tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm. Công ty nhà nước trên thế giới có nhiều dạng: công ty được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, trong đó, Nhà nước nắm quyền chỉ đạo các hoạt động; công ty do Nhà nước đầu tư toàn bộ vốn nhưng vẫn được công nhận là các chủ thể pháp lý độc lập với tài sản riêng và khả năng chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản; các công ty không có tài sản riêng, không có quyền tự chủ kinh doanh, mọi chi phí hoạt động lấy từ ngân sách nhà nước.

Ở Việt Nam, các tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của nhà nước được công nhận từ Sắc lệnh số 104/SL ngày 01.01.1948. Thuật ngữ tổ chức kinh doanh nhà nước chính thức được sử dụng trong Nghị định số 388/CP ngày 20.11.1991 của Chính phủ ban hành quy chế về thành lập và giải thể tổ chức kinh doanh nhà nước để thay thế cho thuật ngữ tổ chức kinh doanh quốc doanh được sử dụng trong một thời gian dài trước.

Sau khi Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995 được áp dụng, vị trí pháp lý của doanh nghiệp nhà nước đã được cải thiện một cách cơ bản. Theo luật này, doanh nghiệp nhà nước được xem là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân do Nhà nước đầu tư toàn bộ vốn thành lập và có quyền quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích để thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội do Nhà nước giao. Về mục đích hoạt động, có doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích. Về hình thức liên kết, có doanh nghiệp nhà nước hoạt động độc lập, là thành viên của tổng công ty nhà nước hoặc tổng công ty nhà nước. Mặc dù không sở hữu tài sản, các doanh nghiệp nhà nước có quyền quản lý và sử dụng tài sản được Nhà nước giao cho hoạt động kinh doanh hoặc công ích của mình. Doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Sau khi Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 thay thế Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995, khái niệm doanh nghiệp nhà nước đã thay đ

Theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế mà Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chỉ phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Doanh nghiệp nhà nước có thể là: công ty nhà nước (công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước), công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên, doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chỉ phối của Nhà nước (cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ và Nhà nước giữ quyền chí phối đối với doanh nghiệp đó).

Thay đổi quan điểm về doanh nghiệp nhà nước đóng góp vào việc giải quyết mối quan hệ giữa sở hữu của nhà nước và sở hữu của doanh nghiệp; giao quyền tự chủ kinh doanh thực sự cho doanh nghiệp nhà nước; tạo sự linh hoạt, tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước nhằm mục tiêu thống nhất cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam.

2. Định nghĩa công ty nhà nước

Công ty nhà nước bao gồm các công ty do Nhà nước sở hữu hơn 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật này.

Trên toàn cầu, quan điểm về doanh nghiệp nhà nước được hiểu rất khác nhau. Tổ chức Liên hợp quốc định nghĩa doanh nghiệp quốc doanh là các doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu toàn bộ hoặc một phần và nhà nước có quyền kiểm soát đến một mức độ nhất định quyết định của doanh nghiệp.

Định nghĩa này tập trung vào vấn đề quyền sở hữu và quyền điều hành của chính phủ trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Theo Ngân hàng Thế giới (WB),

Theo định nghĩa này, doanh nghiệp công lập là các tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh, không bao gồm các tổ chức, các ngành thuộc sở hữu công lập trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo vệ quốc phòng, an ninh …

Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước của New Zealand năm 1986, tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều là công ty TNHH mà nhà nước là chủ sở hữu duy nhất và hai bộ trưởng đại diện cho nhà nước thực hiện quyền sở hữu này. Ở Đài Loan, các doanh nghiệp có trên 50% vốn nhà nước được xem là doanh nghiệp nhà nước và phần lớn các doanh nghiệp nhà nước ở Đài Loan là đa sở hữu.

Vì vậy, dù có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp nhà nước, nhưng các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia trên thế giới đồng ý rằng: Doanh nghiệp nhà nước là các tổ chức sản xuất kinh doanh mà nhà nước sở hữu toàn bộ hoặc phần lớn vốn. Những doanh nghiệp này thuộc sở hữu của nhà nước hoặc chủ yếu thuộc sở hữu của nhà nước, do đó chính phủ có thể có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến doanh nghiệp. Ở nhiều quốc gia, nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước với nhiều mục tiêu khác nhau. Doanh nghiệp nhà nước có thể được thành lập trong các lĩnh vực quan trọng, cần thiết của nền kinh tế và các lĩnh vực tư nhân không muốn hoặc không có khả năng đầu tư. Doanh nghiệp nhà nước cũng có thể được thành lập với mục tiêu đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế và giữ cho nhà nước lợi nhuận lớn để giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội phát sinh.

Ở Việt Nam, doanh nghiệp công cộng là một phần của kinh tế công cộng và luôn được xác định có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, quan điểm về doanh nghiệp công cộng trong các văn bản pháp luật ở nước ta đã thay đổi theo thời gian.

Từ những năm đầu của Việt Nam dân chủ cộng hoà, hình thức kinh doanh thuộc sở hữu của nhà nước đã được công nhận pháp lý. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp nhà nước được gọi là doanh nghiệp quốc gia. Sau đó, các đơn vị kinh tế của nhà nước được gọi là xí nghiệp quốc doanh, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh, cửa hàng, công ty quốc doanh. Từ cuối năm 1991, thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước mới chính thức được sử dụng trong Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 388- HĐBT của Hội đồng bộ trưởng ngày 20/11/1991. Từ đó đến nay, thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước được sử dụng để chỉ sự sở hữu của doanh nghiệp, không dùng để chỉ hình thức pháp lý của doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH.

Với mục tiêu tạo ra một khung pháp lý thống nhất áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và cải tiến cơ chế quản trị doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trường và quy tắc quốc tế, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã được ban hành. Theo đó, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu hơn 50% vốn điều lệ và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: Công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần. Việc thành lập, hoạt động, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể của doanh nghiệp nhà nước phải tuân theo Luật Doanh nghiệp này.

Hiện tại, quy định về doanh nghiệp nhà nước được đề ra trong phần IV từ điều 88 và 89, cụ thể như sau:

1. Công ty nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm:

a) Công ty do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ.

b) Các công ty mà chính phủ sở hữu hơn 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, trừ các công ty được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

2. Các công ty mà Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Công ty có trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ là công ty chủ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty chủ của tổng công ty nhà nước, công ty chủ trong nhóm công ty chủ – công ty con.

b) Công ty có trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ.

3. Các công ty mà chính phủ sở hữu hơn 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Công ty có trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước sở hữu hơn 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ – công ty con;

b) Công ty có ít nhất hai thành viên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước sở hữu hơn 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

4. Chính quyền quy định cụ thể điều này.

3. Đặc trưng của công ty nhà nước

Các đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước bao gồm:

Ba là, quyết định cấu trúc tổ chức quản lý doanh nghiệp; quyết định giải thể, tái cấu trúc doanh nghiệp; phê duyệt quy chế hoạt động, sửa đổi và bổ sung quy chế; quyết định về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, thay đổi chức vụ, tặng thưởng, kỷ luật người quản lý doanh nghiệp (Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, hoặc Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc).

Để đảm bảo sự đồng nhất trong việc quản lý của chủ sở hữu nhà nước và tăng cường hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhà nước phải thực hiện các nhiệm vụ sau đối với toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước, bao gồm:

Để thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ là cơ quan duy nhất quản lý và thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ giao phó, phân chia cho Thủ tướng Chính phủ, Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Các cơ quan nhà nước theo cấp bậc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo sự phân tách chức năng của cơ quan nhà nước với vai trò là cơ quan hành chính quản lý và với vai trò là cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước.

– Cung cấp hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho cộng đồng, đảm bảo cuộc sống xã hội.

– Thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ cho quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ về tổ chức quản lý và thực hiện công việc của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.

– Hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên.

– Triển khai các hoạt động áp dụng công nghệ tiên tiến, đầu tư quy mô lớn, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh chóng của các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế.

Vì vậy, hiện tại luật pháp đã xác định rõ ràng rằng, chỉ có thể thành lập và hoạt động doanh nghiệp nhà nước trong những giai đoạn quan trọng trong một số ngành, lĩnh vực nhằm đảm bảo lợi ích của cộng đồng, bảo vệ an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, và kinh doanh trong lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, đầu tư lớn mà các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không thể cung cấp.

– Công ty TNHH một thành viên do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ là công ty cha của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty cha của tổng công ty nhà nước, công ty cha trong nhóm công ty cha – công ty con. Trong tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước, các công ty con do công ty cha đầu tư toàn bộ vốn sẽ không được coi là doanh nghiệp nhà nước, không phải tuân thủ những quy định pháp luật riêng dành cho doanh nghiệp nhà nước.

– Doanh nghiệp có hình thức là công ty TNHH một thành viên độc lập, với sự sở hữu toàn bộ vốn điều lệ bởi nhà nước.

Mặc dù tồn tại dưới hình thức công ty TNHH một thành viên tuân thủ quy định của Luật Doanh nghiệp cũ và các luật khác có liên quan về loại hình công ty này, nhưng hiện nay trên thực tế trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước tồn tại với các tên gọi khác nhau. Ví dụ: Tập đoàn dầu khí Việt Nam là công ty mẹ của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn điện lực Việt Nam là công ty mẹ của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam; Tổng công ty hàng hải Việt Nam, Tổng công ty hàng không Việt Nam, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước; Công ty TNHH MTV Khai thác và chế biến Đá An Giang, Công ty TNHH một thành viên Hanel, Công ty TNHH một thành viên Cao su Dầu Tiếng, Công ty TNHH một thành viên Bà Rịa…

Công ty TNHH một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là một hình thức tồn tại của doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, các quy định về tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước phải tuân theo các quy định của Luật Doanh nghiệp cũ áp dụng cho công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu. Với đặc thù về sở hữu của doanh nghiệp nhà nước, để quản lý công ty TNHH 100% vốn nhà nước hiệu quả và thực hiện được mục tiêu và chức năng của doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp và một số văn bản pháp luật khác đã quy định một số nội dung đặc biệt cho doanh nghiệp nhà nước như: Quy định về tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý người giữ chức danh, chức vụ trong doanh nghiệp nhà nước; Quy định về cơ quan thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước và cách thức thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước; Quản lý, sử dụng vốn và tài sản tại doanh nghiệp nhà nước; Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và xếp loại đối với doanh nghiệp nhà nước; Công

Tóm lại, doanh nghiệp nhà nước có 05 đặc trưng cơ bản sau:

  • Công ty thành viên hoàn toàn sở hữu bởi Nhà nước là công ty chủ của tập đoàn kinh tế Nhà nước, công ty chủ của tổng công ty Nhà nước, công ty chủ trong nhóm công ty mẹ- công ty con.
  • Công ty TNHH một thành viên độc lập do chính phủ sở hữu toàn bộ vốn điều lệ.
  • DNNN được coi là một pháp nhân kể từ khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Với tư cách là một thực thể pháp nhân độc lập, DNNN có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng đối với mọi khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác của DN. Nhà nước, với tư cách là chủ đầu tư của doanh nghiệp, có trách nhiệm và quyền hạn của một chủ đầu tư. Do đó, Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong phạm vi phần vốn điều lệ của doanh nghiệp.

    Để đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu, vai trò và chức năng chủ yếu của DNNN trong nền kinh tế; phạm vi đầu tư vốn Nhà nước chỉ nên hạn chế trong một số lĩnh vực sau.

  • Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho cuộc sống xã hội, đảm bảo sự an toàn và phát triển của cộng đồng.
  • Thực hiện các hoạt động liên quan đến phục vụ trực tiếp cho lĩnh vực quốc phòng an ninh theo quy định của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quốc phòng an ninh.
  • Hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên.
  • Các hoạt động của ứng dụng công nghệ tiên tiến, đầu tư quy mô lớn, thúc đẩy sự phát triển cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế.
  • 4. Các hình thức kinh doanh thuộc sở hữu của nhà nước

    Tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước, công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con là một nhóm các công ty có quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, vốn góp hoặc các liên kết khác, trong đó có công ty mẹ là một doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu. Việc quản lý và điều hành tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước được thực hiện thông qua công ty mẹ. Công ty mẹ đứng đầu và điều chỉnh hoạt động của các công ty con và định hướng hoạt động của các doanh nghiệp trong tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước. Công ty mẹ là một doanh nghiệp nhà nước trong tập đoàn kinh tế nhà nước thường có vốn lớn lên đến hàng trăm nghìn tỉ. Chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và tổ chức quản lý của công ty mẹ là doanh nghiệp nhà nước trong tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước tuân thủ các quy định riêng áp dụng cho tập đoàn kinh tế nhà nước.

    Công ty chủ của tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước do Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ƯBND cấp tỉnh quyết định thành lập. Hiện nay, một số công ty chủ trong tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước cũng được gọi là tập đoàn. Ví dụ, như Công ty chủ là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (gọi tắt là PVN) có tư cách pháp nhân trong tổ hợp doanh nghiệp Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam không có tư cách pháp nhân; Công ty chủ là Tập đoàn điện lực Việt Nam trong tổ hợp doanh nghiệp Tập đoàn điện lực Quốc gia Việt Nam. Với cách đặt tên như vậy rất dễ gây nhầm lẫn giữa tổ hợp tập đoàn kinh tế nhà nước với công ty chủ trong tập đoàn.

    Công ty nhà nước có Hội đồng thành viên là công ty TNHH một thành viên do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ. Tổ chức quản lý bao gồm: Hội đồng thành viên là đại diện trực tiếp của chủ sở hữu; Giám đốc tổng; Kiểm toán viên. Công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ – công ty con là các doanh nghiệp nhà nước phải có hội đồng thành viên.

    Công ty TNHH một thành viên do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ và không có Hội đồng thành viên được tổ chức quản lý bởi Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên. Các công ty độc lập không thuộc cơ cấu công ty mẹ – công ty con thường là các doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng thành viên.

    Mục lục

    Chia sẻ

    Cám ơn bạn đã đặt hàng

    Đơn hàng đã được đặt thành công

    Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

    Tải về Các loại doanh nghiệp công lập