Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

Cách thức và đối tượng cầm cố tài sản là gì?

Bạn đã bao giờ nghe đến thuật ngữ "cầm cố tài sản" chưa? Đây là một khái niệm phổ biến trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng. Nhưng bạn có biết đúng nghĩa của nó là gì không? Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về cách cầm cố tài sản hoạt động và những đối tượng, hình thức cầm cố tài sản phổ biến. Hãy cùng khám phá và tìm hiểu thêm về một khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực tài chính này nhé!

Chia sẻ

1. Định nghĩa thế chấp tài sản

Trong mối quan hệ nghĩa vụ, để đảm bảo quyền và lợi ích của người có quyền không bị vi phạm, các bên có thể thỏa thuận thiết lập một biện pháp đảm bảo đối tượng, trong đó bên có nghĩa vụ phải chuyển giao cho người có quyền một tài sản thuộc sở hữu của mình. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ, người có quyền đã có sẵn một tài sản mà bên có nghĩa vụ đã chuyển giao để khấu trừ phần nghĩa vụ chưa được thực hiện. Do đó, về mặt ngữ nghĩa, cầm cố tài sản là hành động của một người giữ sẵn một tài sản của người khác để đảm bảo quyền và lợi ích của mình.

Việc thế chấp tài sản thường được thực hiện kèm theo một hợp đồng dân sự, nhưng cũng có thể được thực hiện theo một nghĩa vụ ngoài hợp đồng. Dù trong trường hợp nào, thế chấp tài sản đều là kết quả của sự đồng ý từ cả hai bên và với mục đích là bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba phải sử dụng tài sản của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đó trước bên có quyền.

Cầm cố tài sản là hành động một bên chuyển giao tài sản mà họ sở hữu cho bên khác nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ. Biện pháp cầm cố được quy định từ Điều 309 đến Điều 316 của Luật Dân sự năm 2015.

2. Quy định tổng quát về thế chấp tài sản

Người bảo quản tài sản thường là bên có quyền, bên nhận thế chấp; nếu tài sản thế chấp đã được đăng ký quyền sở hữu, thì các bên có thể thỏa thuận để bên thế chấp vẫn giữ tài sản thế chấp hoặc giao cho người khác để giữ. Bên giữ tài sản thế chấp không được bán, trao đổi, tặng, cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp; không được sử dụng tài sản thế chấp để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ khác; không được khai thác tiện ích, hưởng lợi, lợi nhuận từ tài sản thế chấp nếu không được bên thế chấp đồng ý.

Khi đã đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên có quyền, bên nhận cầm cố, thì tài sản cầm cố sẽ được xử lí theo cách mà các bên đã thỏa thuận hoặc được bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố sẽ được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố sau khi trừ đi các chi phí bảo quản và phí bán đấu giá tài sản.

Nếu bên mượn đã hoàn thành đúng nghĩa vụ trong thời hạn, thì bên cho mượn phải trả lại cho bên mượn tài sản, các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản mà bên mượn đã nhận. Nếu tài sản cầm cố bị hỏng, thì bên cho mượn phải đền bù thiệt hại.

Một tài sản có được đăng kí quyền sở hữu theo quy định của luật pháp có thể được thế chấp để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự khác nhau nếu có giá trị cao hơn tổng giá trị của các nghĩa vụ được đảm bảo, trừ khi có thỏa thuận hoặc quy định khác của luật pháp.

3. Cách thức của thế chấp tài sản

Bộ luật dân sự năm 2015 không định rõ về hình thức của việc thế chấp tài sản, tuy nhiên theo quy định tại Điều 310 Bộ luật dân sự năm 2015 có thể hiểu nếu việc thế chấp tài sản là động sản thì có thể thông qua hình thức nói hoặc hình thức viết, nếu việc thế chấp bất động sản thì bắt buộc phải thông qua việc viết.

Theo quy định tại điều luật trên thì văn bản thế chấp không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực hoặc đăng ký, trừ khi pháp luật có quy định khác. Thông thường, nếu tài sản thế chấp không cần đăng ký quyền sở hữu thì các bên không cần phải công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, để tăng cường tính pháp lý an toàn, các bên có thể thỏa thuận thế chấp phải có công chứng hoặc chứng thực.

4. Đối tượng của thế chấp tài sản

Nếu các biện pháp bảo đảm nói chung có thể áp dụng cho nhiều loại đối tượng (tài sản, công việc phải thực hiện, uy tín), thì cầm cố tài sản chỉ áp dụng cho tài sản. Do đó, cầm cố tài sản còn được gọi là tài sản cầm cố.

Mặc dù hiện tại không có quy định pháp luật về việc cầm cố tài sản, nhưng theo bản chất của cầm cố, bên cầm cố phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố để giữ, do đó tài sản cầm cố chỉ có thể là những vật có sẵn vào thời điểm giao dịch cầm cố được thiết lập. Giấy tờ có giá trị chỉ có thể được coi là tài sản cầm cố nếu chính giấy tờ đó là một loại tài sản.

Vật dụng để giữ cố có thể là tài sản di động hoặc tài sản không di động (nếu pháp luật có quy định) nhưng phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

Khi người có trách nhiệm giao tài sản thế chấp cho người có quyền, từ thời điểm đó họ bị hạn chế một số quyền hạn đối với tài sản của mình. Bên nhận thế chấp sở hữu tài sản đó đồng thời có quyền quyết định về nó khi đến thời hạn thực hiện trách nhiệm mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng trách nhiệm (nếu có thoả thuận).

Do đó, tài sản mà người cầm cố có quyền cầm cố phải là tài sản mà người đó sở hữu. Nếu tài sản đó là tài sản chung của nhiều người, thì việc cầm cố tài sản đó phải được sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu.

Trong thực tế, việc xác định tài sản cầm cố có thuộc sở hữu của người cầm cố hay không sẽ khá dễ dàng nếu tài sản đó có giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu. Tuy nhiên, sẽ là một nhiệm vụ rất khó khăn nếu tài sản cầm cố không được đăng ký quyền sở hữu. Trong những trường hợp này, người cầm cố phải cực kỳ cẩn thận và chỉ nhận tài sản khi có đủ căn cứ để khẳng định chắc chắn rằng tài sản đó thuộc sở hữu của người cầm cố, chỉ khi đó quyền lợi của họ mới được đảm bảo.

Theo quy định, những tài sản không được đăng ký quyền sở hữu được cho là thuộc sở hữu của người chiếm hữu thực tế. Ngược lại, để bên kia chấp nhận, người cầm cố luôn khẳng định tài sản đó thuộc sở hữu của mình. Do đó, người nhận cầm cố khó có cơ sở để xác định tài sản đó có thuộc sở hữu của bên cầm cố hay không? Và vì vậy, việc pháp luật quy định tài sản cầm cố phải thuộc sở hữu của bên cầm cố là một điều khá bất lợi đối với bên nhận cầm cố. Nếu tài sản không thuộc sở hữu của người cầm cố, dù là do người cầm cố lừa dối (ví dụ như mượn vật của người khác và nói dối là của mình để cầm cố), người nhận cầm cố vẫn là người phải chịu hậu quả đầu tiên. Nếu tài sản được thu hồi để trả lại cho chủ sở hữu thực sự của nó, người nhận cầm cố sẽ không còn gì để đảm bảo quyền lợi của mình nữa, không còn quyền ưu tiên trong việc thanh toán nợ từ tài sản cầm cố.

Tuy nhiên, nguyên tắc tài sản phải thuộc sở hữu của bên cầm cố được loại trừ trong trường hợp bên cầm cố là doanh nghiệp nhà nước. Các tài sản mà các doanh nghiệp nhà quản lý là tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là chủ sở hữu. Để các doanh nghiệp của mình có thể hoạt động bình thường trong việc thực hiện chức năng, mục đích của nó, Nhà nước đã giao cho các doanh nghiệp này tài sản và quyền quản lí tài sản. Vì vậy, các doanh nghiệp nhà nước, dù không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng vẫn có thể sử dụng tài sản thuộc quyền quản lý của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.

Khi nghĩa vụ được đảm bảo bằng biện pháp thế chấp đến hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ thì bên thế chấp có quyền bán tài sản thế chấp. Tuy nhiên, bên thế chấp chỉ có thể bán tài sản nếu tài sản đó là tài sản được phép chuyển nhượng trong giao dịch dân sự. Vì vậy, nếu tài sản thế chấp là tài sản mà pháp luật cấm giao dịch thì không chỉ giao dịch thế chấp đó trở nên vô hiệu mà người nhận thế chấp còn không thể xử lí được tài sản đó.

5. Người sở hữu cổ phiếu tài sản

5.1 Bên nắm giữ
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: 5.1 Bên giữ nắm

Bên cầm cố là bên trái giao tài sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ. Thông thường, bên cầm cố là bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ được đảm bảo bằng biện pháp cầm cố đó. Ví dụ, B chuyển tài sản của mình cho A giữ để vay tiền của A. Trong nhiều trường hợp khác, người cầm cố có thể là người thứ ba. Người thứ ba cầm cố tài sản là người không thuộc các bên trong quan hệ nghĩa vụ được đảm bảo giao tài sản của mình cho bên có quyền để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ đó. Ví dụ, c giao tài sản của mình cho A để đảm bảo việc B trả khoản tiền mà B đã vay của A.

5.2 Người nhận tài sản thế chấp

Bên nhận thế chấp là bên nhận tài sản từ bên thế chấp để đảm bảo quyền lợi của mình trong trường hợp bên thế chấp không thực hiện hoặc không thực hiện đúng, không đủ nghĩa vụ. Bên nhận thế chấp luôn là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được đảm bảo bằng biện pháp thế chấp đó.

6. Tác dụng và thời gian hiệu lực của việc thế chấp tài sản.

Hợp đồng thế chấp có hiệu lực đối với tất cả các bên từ thời điểm ký kết và có hiệu lực chống lại người thứ ba từ thời điểm bên nhận tài sản thế chấp nắm giữ. Trong trường hợp tài sản thế chấp là đất đai và việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm, thì có hiệu lực chống lại người thứ ba từ thời điểm đăng ký.

Thời gian cầm cố tài sản được xác định bởi sự thoả thuận giữa các bên. Trong trường hợp không có thoả thuận, thời gian cầm cố tài sản tính từ khi bên cầm cố nhận tài sản cho đến khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố kết thúc.

Trên đây là lời tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi mong rằng, những ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm rõ các vấn đề mà bạn quan tâm. Với mỗi vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Cách thức và đối tượng cầm cố tài sản là gì?