Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

  • Home
  • Kiến thức
  • Đăng ký giám hộ đương nhiên là gì? Có phải cần đăng ký giám hộ đương nhiên?

Đăng ký giám hộ đương nhiên là gì? Có phải cần đăng ký giám hộ đương nhiên?

Bạn đã từng nghe đến thuật ngữ "giám hộ đương nhiên" chưa? Đây là một khái niệm pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của những người không đủ năng lực pháp lý để tự quản lý cuộc sống của mình. Nhưng liệu có cần đăng ký giám hộ đương nhiên hay không? Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về khái niệm giám hộ đương nhiên, vai trò của nó và quy trình đăng ký nếu có. Hãy cùng khám phá thêm về chủ đề thú vị này!

Chia sẻ

1. Người giám hộ tự nhiên là ai?

Người đại diện tự nhiên là một hình thức đại diện theo quy định của pháp luật, người đại diện tự nhiên chỉ có thể là cá nhân. Mối quan hệ đại diện dạng này được xác định bằng các quy định về người đại diện, người được đại diện, quyền và nghĩa vụ của người đại diện đối với người được đại diện và tài sản của họ.

Theo quy định tại mục 1 Điều 46

Người giám hộ là cá nhân hoặc tổ chức được quy định bởi pháp luật, được bầu cử bởi Ủy ban nhân dân cấp xã, được chỉ định bởi Tòa án hoặc được quy định theo khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (gọi chung là người giám hộ), có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người gặp khó khăn trong nhận thức và hành vi (gọi chung là người được giám hộ).

– Để trở thành người bảo trợ thì cá nhân phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 49 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể như sau:

+ Có khả năng thực hiện đầy đủ các hành vi dân sự.

+ Có phẩm chất đạo đức cao và các yếu tố cần thiết để thực hiện quyền, trách nhiệm của người giám hộ.

+ Không phải là cá nhân đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cá nhân bị kết án nhưng chưa được xóa bỏ hồ sơ về một trong các tội cố ý vi phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.

+ Tôi không phải là người bị Tòa án tuyên bố giới hạn quyền của con chưa đủ tuổi.

Theo quy định của Luật Dân sự 2015, có hai trường hợp tự nhiên của người giám hộ, đó là:

– Người chăm sóc tự nhiên đối với cá nhân chưa đủ tuổi trưởng thành.

– Người được ủy quyền chính thức đối với cá nhân mất khả năng hành vi dân sự.

2. Có yêu cầu đăng ký không khi thực hiện vai trò người giám hộ?

Theo điều 46 khoản 3 của Bộ luật dân sự năm 2015, thì:

Người bảo trợ tự nhiên mà không đăng ký chức vụ bảo trợ vẫn phải thực hiện trách nhiệm của người bảo trợ.

Do đó, theo quy định trên, việc đăng ký giám hộ tại một cơ quan có thẩm quyền của nhà nước là bắt buộc. Trong trường hợp người giám hộ không tuân thủ quy định này, họ vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ của mình.

– Đơn vị có thẩm quyền đăng ký giám hộ giữa công dân Việt Nam với nhau là Ủy ban nhân dân cấp xã tại địa phương mà người được giám hộ hoặc người giám hộ đang cư trú.

– Quy định về thủ tục đăng ký người giám hộ tự nhiên được miêu tả trong Điều 21 của Luật quốc tịch năm 2014.

+ Người yêu cầu đăng ký người giám hộ phải nộp đơn đăng ký người giám hộ theo mẫu quy định và các giấy tờ chứng minh điều kiện làm người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trong trường hợp có nhiều người đủ điều kiện làm người giám hộ, thì phải nộp thêm văn bản thỏa thuận về việc chọn một người làm người giám hộ.

Trong vòng 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ tài liệu đã nêu, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật, công chức tư pháp – hộ tịch sẽ ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch, sau đó báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để cấp lục cho người yêu cầu.

3. Người bảo trợ tự nhiên của người chưa trưởng thành.

Các trường hợp sau đây yêu cầu xác định người giám hộ theo quy định tại Điều 52 Bộ luật dân sự 2015:

– Người chưa trưởng thành không có phụ huynh hoặc không biết rõ phụ huynh là ai.

– Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cả hai đều không có khả năng thực hiện hành vi dân sự; cả hai đều gặp khó khăn trong việc nhận thức và kiểm soát hành vi; cả hai đều bị hạn chế khả năng thực hiện hành vi dân sự; cả hai đều bị Tòa án tuyên bố giới hạn quyền của con; cả hai đều không đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục con và yêu cầu người giám hộ.

Theo Điều 52 của Luật Dân sự năm 2015:
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: Theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

Người bảo trợ tự nhiên của người chưa trưởng thành quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật này được xác định theo thứ tự sau đây:

1. Anh trai là người lớn nhất hoặc chị gái là người lớn nhất là người chịu trách nhiệm chăm sóc; nếu anh trai hoặc chị gái không đủ điều kiện để làm người chăm sóc thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người chăm sóc, trừ khi có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người chăm sóc.

2. Trường hợp không có người bảo trợ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người bảo trợ hoặc những người này thỏa thuận chọn một hoặc một số người trong số họ làm người bảo trợ.

3. Trong trường hợp không có người giám hộ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này, người có quan hệ họ ruột như bác, chú, cậu, cô hoặc dì sẽ đảm nhận vai trò người giám hộ.

Theo đó, việc xác định người giám hộ tự nhiên được xem xét tuần tự theo ba trình tự, trong trường hợp không có cá nhân có thể trở thành người giám hộ tự nhiên ở trình tự trước đó sẽ được xem xét trình tự tiếp theo sau đó. Và trong mỗi trình tự cũng có sự ưu tiên tuần tự.

Ba thứ tự xác định người bảo trợ tự nhiên bao gồm:

  • Anh trai là người lớn tuổi nhất trong gia đình hoặc chị gái là người lớn tuổi nhất trong gia đình.
  • Anh trai hoặc chị gái tiếp theo hoặc có thỏa thuận anh trai hoặc chị gái khác.
  • 4. Người bảo trợ tự nhiên của người mất khả năng hành vi dân sự.

    Theo quy định của Luật Dân sự năm 2015, người bị mất khả năng thực hiện hành vi dân sự là người do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức và kiểm soát hành vi của mình. Trong trường hợp này, người có quyền hoặc lợi ích liên quan, hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định xác định người này là người mất khả năng thực hiện hành vi dân sự dựa trên kết luận của bệnh viện tâm thần.

    Theo Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật dân sự 2015, người mất khả năng hành vi dân sự được xác định là người được người giám hộ, cần có người giám hộ để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

    Trong trường hợp không có người bảo trợ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này, người đại diện tự nhiên của người mất khả năng hành vi dân sự sẽ được xác định như sau:

    1. Khi vợ không có khả năng thực hiện các hành vi pháp lý, chồng sẽ đảm nhận vai trò người bảo trợ; trong trường hợp chồng không có khả năng thực hiện các hành vi pháp lý, vợ sẽ đảm nhận vai trò người bảo trợ.

    Trong trường hợp cả cha và mẹ hoặc một trong hai người mất khả năng hành vi dân sự và người còn lại không đủ điều kiện để trở thành người giám hộ, người con cả sẽ trở thành người giám hộ. Nếu người con cả không đủ điều kiện để trở thành người giám hộ, người con tiếp theo có đủ điều kiện sẽ trở thành người giám hộ.

    Trong trường hợp người trưởng thành mất khả năng hành vi dân sự và không có vợ, chồng, con hoặc có nhưng vợ, chồng, con không đủ điều kiện để trở thành người giám hộ, thì cha mẹ sẽ trở thành người giám hộ.

    Vì vậy, người đại diện tự nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định này sẽ không được áp dụng trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Luật Dân sự, tức là nếu khi người đó vẫn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự đã chọn người đại diện cho mình để phòng trường hợp mất năng lực hành vi dân sự.

    Trong trường hợp người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự có quyền tự chọn người giám hộ cho mình, khi họ cần được giám hộ, họ có thể lựa chọn cá nhân hoặc tổ chức làm người giám hộ nếu người đó đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được thực hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

    Cá nhân được xác định là người bảo trợ tự nhiên của người mất khả năng hành vi dân sự được xác định theo ba trường hợp như sau:

    – Đầu tiên, trong trường hợp vợ hoặc chồng không còn khả năng thực hiện các hành vi pháp lý, người còn lại sẽ trở thành người đại diện.

    – Nếu cả cha lẫn mẹ không còn khả năng thực hiện các hành vi pháp lý hoặc chỉ một trong hai không đủ điều kiện để trở thành người giám hộ, thì con cả sẽ trở thành người giám hộ hoặc nếu con cả không đủ điều kiện, thì con tiếp theo sẽ trở thành người giám hộ.

    – Nếu người mất khả năng hành vi dân sự chưa có người phối ngẫu, con cái hoặc không đáp ứng đủ điều kiện, thì cha mẹ của người mất khả năng hành vi dân sự sẽ trở thành người đại diện.

    Theo quy định tại Điều 49 Bộ luật dân sự 2015, cá nhân để được làm người giám hộ phải thỏa mãn các yêu cầu sau:

    1. Có khả năng thực hiện các hành vi dân sự đầy đủ.

    2. Có phẩm chất đạo đức cao và các yếu tố cần thiết để thực hiện quyền, trách nhiệm của người giám hộ.

    3. Không phải là cá nhân đang bị truy tố hình sự hoặc cá nhân đã bị kết án nhưng chưa được xóa bỏ hồ sơ về một trong các tội cố ý vi phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, phẩm chất, tài sản của người khác.

    4. Không phải là cá nhân bị Tòa án tuyên bố giới hạn quyền của con chưa đủ tuổi.

    5. Có thay đổi người bảo trợ tự nhiên được không?

    Điều kiện để thay đổi người giám hộ theo quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự 2015 là những điều kiện cần thiết để thực hiện việc thay đổi người giám hộ theo quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự 2015.

    – Người chăm sóc không đáp ứng đủ các yêu cầu quy định tại Điều 49, Điều 50 của Luật Dân sự năm 2015.

    – Người bảo trợ là cá nhân qua đời hoặc bị Tòa án xác định bị hạn chế khả năng hành vi dân sự, gặp khó khăn trong nhận thức, kiểm soát hành vi, mất khả năng hành vi dân sự, mất tích; tổ chức pháp nhân làm người bảo trợ chấm dứt tồn tại.

    – Người chăm sóc vi phạm nghiêm trọng trách nhiệm chăm sóc.

    – Người bảo trợ đề xuất được thay đổi và có người khác đảm nhận vai trò bảo trợ.

    Vì vậy, trong trường hợp thuộc một trong những tình huống trên, có thể thay đổi người đại diện tự nhiên của người chưa đủ tuổi hoặc người không còn khả năng hành vi dân sự.

    Mọi khó khăn bạn hãy trao đổi trực tiếp với phòng ban tương ứng.

    Mục lục

    Chia sẻ

    Cám ơn bạn đã đặt hàng

    Đơn hàng đã được đặt thành công

    Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

    Tải về Đăng ký giám hộ đương nhiên là gì? Có phải cần đăng ký giám hộ đương nhiên?