Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

  • Home
  • Kiến thức
  • Định nghĩa đất tái định cư và cách tính giá đất tái định cư

Định nghĩa đất tái định cư và cách tính giá đất tái định cư

Chia sẻ

1. Một số thuật ngữ có liên quan

Tái định cư là gì?

Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay chưa định nghĩa rõ ràng về khái niệm tái định cư. Tuy nhiên, ta có thể hiểu tái định cư là một chính sách nhằm ổn định cuộc sống và bồi thường thiệt hại cho các chủ sở hữu nhà, đất và tài sản liên quan đến đất bị nhà nước thu hồi theo quy định. Hình thức bồi thường có thể là nhà xây sẵn, nhà tái định cư hoặc chung cư. Tái định cư có nghĩa là di chuyển người và cộng đồng từ nơi cư trú hiện tại đến nơi khác và định cư lại tại đó. Thường thì tái định cư xảy ra khi một dự án phát triển cần sử dụng đất hoặc tài nguyên thiên nhiên trong khu vực đó và cần di dời cư dân và cộng đồng đang sinh sống tại đó. Tái định cư thường được chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ thực hiện và đi kèm với các chính sách hỗ trợ tài chính, vật chất và tinh thần để giúp người dân tái định cư và phục hồi cuộc sống của họ. Tuy nhiên, tái định cư có thể gây ra những tác động tiêu cực đến cộng đồng và môi trường, do đó việc thiết lập các chính sách và qu

Đất tái định cư là gì?

Quy định hiện tại không cung cấp thông tin cụ thể về đất tái định cư. Tuy nhiên, có một số thuật ngữ liên quan có thể được tham khảo. Theo Điều 3 Nghị định 84/2013/NĐ-CP, nhà ở tái định cư được định nghĩa là một loại nhà ở được xây dựng hoặc mua để phục vụ nhu cầu tái định cư của các hộ gia đình và cá nhân, theo quy định tại Điều 2 Nghị định này. Điều 3 Nghị định cũng quy định về hộ gia đình và cá nhân tái định cư, đó là hộ gia đình và cá nhân được mua hoặc thuê nhà ở tái định cư theo quy định của pháp luật về đất đai và Nghị định 84/2013/NĐ-CP. Từ đó, có thể hiểu rằng đất tái định cư là đất được nhà nước sử dụng để đáp ứng nhu cầu tái định cư của hộ gia đình và cá nhân.

Các biện pháp đền bù hỗ trợ tái định cư khi thu hồi đất được đa dạng hóa, bao gồm việc chi trả bằng tiền, cung cấp nhà ở tái định cư hoặc cung cấp đất tái định cư để người dân tự xây dựng nhà. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể để bố trí chỗ ở mới hoặc chi trả các chi phí để người bị thu hồi đất tìm nơi định cư mới. Hiện nay, thường thì đối với các trường hợp thu hồi đất của nhà nước, ưu tiên được đặt vào việc cung cấp đất tái định cư, nhà tái định cư tại chỗ trong khu vực có đất thu hồi, miễn là diện tích đất đó đủ để đảm bảo cho việc ở, nhằm hạn chế việc di chuyển của các chủ thể bị thu hồi đất ra khu vực mới ngoài khu vực thu hồi của dự án. Chính sách tái định cư được thiết lập nhằm giúp người dân ổn định cuộc sống và bồi thường thiệt hại cho các chủ sở hữu nhà, đất và tài sản liên quan đến đất bị thu hồi theo quy định của pháp luật.

Đất tái định cư là loại đất mà Nhà nước cấp cho người dân khi đất của họ bị thu hồi, nhằm bồi thường cho việc mất đất. Mục đích của việc cấp đất tái định cư là để giúp người dân có nơi an cư mới và ổn định cuộc sống. Về mặt pháp lý, đất tái định cư được coi là đất thổ cư và được cấp quyền sở hữu cho chủ sở hữu mới theo quy định của pháp luật hiện hành. Quy định về đất tái định cư đã được ban hành lần đầu trong Luật Đất đai năm 2013. Do đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người được thừa hưởng đất tái định cư cũng có các quyền sử dụng đất hợp pháp tương tự như các loại đất khác.

Tái định cư ở đây có nghĩa là sẽ được sắp xếp chỗ ở mới (tái định cư tại cùng nơi; hoặc tái định cư tại một địa điểm khác – nơi được bồi thường bằng đất); và cung cấp hỗ trợ tái định cư cho trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình; cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và phải di chuyển chỗ ở. Theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định 47/2014/NĐ-CP; việc hỗ trợ tái định cư cho trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; và phải di chuyển chỗ ở khi nhà nước thu hồi được thực hiện như sau: Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sẽ nhận được đất ở; nhưng nếu số tiền được bồi thường bằng đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại Điều 27 của Nghị định 47/NĐ-CP; thì họ sẽ được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu; và số tiền được bồi thường bằng đất. Trường hợp hộ gia đình; cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự lo chỗ ở; n

Quy định về việc đền bù đất tái định cư

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 79 Luật Đất đai 2013 sẽ được thực hiện theo các quy định dưới đây:

Khi Nhà nước thu hồi đất ở, hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất ở, cũng như người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở liên quan đến quyền sử dụng đất tại Việt Nam, sẽ được bồi thường về đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cũng được áp dụng trong trường hợp này.

Trong trường hợp không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại, hộ gia đình hoặc cá nhân sẽ được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở đã bị thu hồi.

Trong trường hợp không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích đất ở, hộ gia đình hoặc cá nhân sẽ được bồi thường bằng tiền. Nếu trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở bị thu hồi vẫn còn đất ở hoặc nhà ở khác, đối tượng này cũng sẽ được bồi thường bằng tiền. Tuy nhiên, đối với địa phương có đủ quỹ đất ở, sẽ xem xét để bồi thường bằng đất ở.

Trong trường hợp có nhiều thế hệ và nhiều cặp vợ chồng sống chung trong một hộ gia đình, hoặc nhiều hộ gia đình có quyền sử dụng chung một thửa đất, khi thửa đất đó bị thu hồi, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ xem xét quỹ đất ở và nhà ở tái định cư, cùng với tình hình thực tế tại địa phương, để quyết định mức đất ở và nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

– Những hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và thuộc các trường hợp được quy định trong Khoản 1 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, nhưng không có nhu cầu được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư, sẽ được Nhà nước bồi thường bằng tiền.

– Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở của hộ gia đình hoặc cá nhân và họ không đủ điều kiện để nhận bồi thường đất ở, nếu không có chỗ ở khác trong khu vực xã, phường, thị trấn nơi đất ở bị thu hồi, Nhà nước có thể bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở với việc thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở và giá đất ở sẽ được tính theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Trong trường hợp đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở trong quá trình thu hồi, hộ gia đình hoặc cá nhân có thể chuyển đổi phần diện tích đất thu hồi sang mục đích sử dụng đất ở, miễn là việc chuyển đổi này tuân thủ quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước phê duyệt. Tuy nhiên, khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất, hộ gia đình hoặc cá nhân phải tuân thủ các quy định về nghĩa vụ tài chính, bao gồm việc thanh toán tiền sử dụng đất và tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định của pháp luật.

Khi Nhà nước thu hồi đất, tổ chức kinh tế và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở, nếu đáp ứng đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai, thì việc bồi thường sẽ được thực hiện theo quy định dưới đây:

Khi chỉ một phần diện tích đất của dự án bị thu hồi nhưng phần còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án, bồi thường sẽ được thực hiện bằng tiền đối với phần diện tích đất bị thu hồi.

Trong trường hợp dự án không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện và phải thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích đất, chúng ta có thể được bồi thường bằng đất hoặc bằng tiền.

Khi Nhà nước thu hồi đất cho dự án đã đi vào hoạt động, bồi thường sẽ được thực hiện bằng phương thức trả tiền.

Tìm hiểu: Cách sắp xếp lại nơi cư trú cho những người sở hữu đất bị thu hồi và buộc phải di chuyển chỗ ở.

Cách tính giá đất tái định cư là gì?

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bao gồm cả hộ gia đình và cá nhân, khi nhận đất ở hoặc nhà ở tái định cư, nếu số tiền bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu, sẽ được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền bồi thường về đất. Trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự lo chỗ ở, ngoài việc được bồi thường về đất, họ còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư. UBND cấp tỉnh sẽ xác định mức hỗ trợ phù hợp dựa trên quy mô diện tích đất ở thu hồi, số lượng thành viên trong hộ gia đình và các điều kiện cụ thể tại địa phương.

Theo quy định tại Điều 86 Luật Đất đai 2013, người sở hữu đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở sẽ được bố trí tái định cư theo quy định sau đây:

– Các cơ quan nhà nước cấp tỉnh và cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho người sở hữu đất thuộc diện phải di dời về việc bồi thường và giải phóng mặt bằng. Thông báo này phải được niêm yết công khai ít nhất 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi có đất thu hồi và nơi tái định cư. Nội dung thông báo bao gồm địa điểm, quy mô quỹ đất và quỹ nhà tái định cư, thiết kế và diện tích của từng lô đất và căn hộ, giá đất và giá nhà tái định cư. Ngoài ra, cũng cần thông báo về dự kiến bố trí tái định cư cho người sở hữu đất thu hồi. Các phương án bố trí tái định cư này sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trước khi triển khai.

– Những người sở hữu đất bị thu hồi sẽ được sắp xếp tái định cư tại chỗ nếu khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc đáp ứng điều kiện để sắp xếp tái định cư. Ưu tiên sẽ được đưa ra cho vị trí thuận lợi để người sở hữu đất thu hồi sớm nhận được mặt bằng, đặc biệt là những người có đóng góp đáng kể cho cách mạng. Phương án tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi sinh hoạt chung của khu dân cư có đất thu hồi và tại nơi tái định cư.

– Giá đất được tính dựa trên việc thu tiền sử dụng đất tại khu vực tái định cư, và giá bán nhà ở tái định cư được quyết định bởi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Trong trường hợp người sở hữu đất bị thu hồi được sắp xếp tái định cư nhưng số tiền bồi thường và hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu, Nhà nước sẽ hỗ trợ số tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu. Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương. Do đó, thông qua quy định tại Điều 86 Luật Đất đai 2013, chúng ta biết rằng giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư và giá bán nhà ở tái định cư được quyết định bởi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Vì quy định này, giá đất tái định cư không được quy định thống nhất mà sẽ phụ thuộc vào khu vực tái định cư của bạn để xác định giá đất tái định cư.

Quy định về việc thanh toán tiền bồi thường và hỗ trợ tái định cư

Theo quy định tại Điều 30 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, có các quy định sau đây:

– Quy định về việc khấu trừ số tiền bồi thường theo Điều 93 Luật Đất đai cho trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai được thực hiện như sau:

Số tiền chưa thanh toán đối với các nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai, bao gồm tiền sử dụng đất và tiền thuê đất phải được nộp cho Nhà nước, nhưng cho đến thời điểm thu hồi đất, vẫn chưa được thanh toán.

Số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Trong trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ, hộ gia đình và cá nhân sẽ tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó. Nếu hộ gia đình hoặc cá nhân được bố trí tái định cư, sau khi trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao đất ở hoặc mua nhà ở tại nơi tái định cư, và số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính, hộ gia đình và cá nhân sẽ tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó.

Số tiền được bồi thường sẽ được trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính, bao gồm tiền bồi thường về đất và tiền bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Tuy nhiên, không bao gồm các khoản tiền bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền hỗ trợ liên quan đến đất đai.

– Trong trường hợp bồi thường bằng cách cung cấp đất mới hoặc cung cấp đất ở, nhà ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có sự khác biệt về giá trị, phần khác biệt đó sẽ được thanh toán bằng tiền theo quy định sau đây:

Nếu số tiền bồi thường về đất lớn hơn số tiền bồi thường về nhà ở hoặc tiền nhà ở tại khu tái định cư, thì người tái định cư sẽ được nhận khoản chênh lệch đó.

Nếu tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tái định cư, thì người được bố trí tái định cư sẽ phải đóng phần chênh lệch, trừ khi có quy định khác tại Khoản 1 Điều 22 của Nghị định này.

Trong trường hợp diện tích đất thu hồi đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất và chưa được giải quyết, tiền bồi thường và hỗ trợ cho phần diện tích đất tranh chấp đó sẽ được chuyển vào Kho bạc Nhà nước. Sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong, tiền này sẽ được trả lại cho người có quyền sử dụng đất.

– Quy định về việc cung cấp vốn để đền bù, hỗ trợ và tái định cư như sau:

Quỹ phát triển đất được sử dụng để cung cấp vốn cho Tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng, nhằm tạo ra quỹ đất sạch để sử dụng cho việc giao đất và cho thuê đất theo Quy chế mẫu về quản lý và sử dụng Quỹ phát triển đất.

Nếu người được Nhà nước giao đất tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, thì ngân sách nhà nước sẽ hoàn trả số tiền này bằng cách trừ vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp. Số tiền được trừ không được vượt quá số tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp, và số tiền còn lại (nếu có) sẽ được tính vào vốn đầu tư của dự án.

Trong trường hợp người được Nhà nước giao đất không phải trả tiền sử dụng đất, nhưng đất được giao có thu tiền sử dụng đất hoặc được cho thuê theo quy định của pháp luật về đất đai và người đó muốn tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, thì kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư sẽ được tính vào vốn đầu tư của dự án.

Các cá nhân hoặc tổ chức được Nhà nước giao đất và thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất mà không thông qua việc đấu giá quyền sử dụng đất, mà thay vào đó phải trước tiên đóng kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, sẽ được tham gia trong quá trình tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Định nghĩa đất tái định cư và cách tính giá đất tái định cư