Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

  • Home
  • Kiến thức
  • Định nghĩa hạn chế tín dụng và những người bị hạn chế cấp tín dụng

Định nghĩa hạn chế tín dụng và những người bị hạn chế cấp tín dụng

Hạn chế tín dụng là một thuật ngữ phổ biến trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng. Đây là một quy định hoặc chính sách được áp dụng để giới hạn hoặc từ chối cấp tín dụng cho một số đối tượng nhất định. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rõ về hạn chế tín dụng và đối tượng nào bị ảnh hưởng bởi nó. Vì vậy, trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về hạn chế tín dụng là gì và đối tượng nào thường bị hạn chế cấp tín dụng. Hãy cùng khám phá để hiểu rõ hơn về vấn đề này!

Chia sẻ

1. Ý nghĩa giới hạn tín dụng

Hạn chế tín dụng là giới hạn những người không đủ điều kiện để vay tiền hoặc chỉ được vay với điều kiện đặc biệt và giới hạn số tiền tối đa mà họ có thể vay.

Giới hạn tín dụng là sự hạn chế về việc cho vay hoặc cung cấp các điều kiện ưu đãi và mức cho vay tối đa đối với các loại khách hàng. Đây là một biện pháp để đề phòng rủi ro trong hoạt động tín dụng mà tổ chức tín dụng phải thực hiện.

Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định:
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: Điều 16 Điều 4 Luật các cơ quan tín dụng số 47/2010/QH12 quy định:

Việc cho vay là một hình thức cung cấp tín dụng, trong đó tổ chức tín dụng hoặc cam kết cung cấp cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào mục đích cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có trả lại cả gốc và lãi.

Giới hạn tín dụng là biện pháp đề phòng rủi ro trong hoạt động tín dụng mà tổ chức tín dụng phải thực hiện. Phạm vi giới hạn được quy định bởi Nhà nước tùy thuộc vào các điều kiện lịch sử cụ thể như: sự an toàn kinh doanh của hệ thống các tổ chức tín dụng, sự ổn định của nền tài chính quốc gia; khả năng kiểm soát hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng… Do đó, ở các quốc gia, phạm vi giới hạn tín dụng có sự khác biệt và cũng khác nhau trong từng thời kỳ.

2. Phân loại hạn chế tín dụng
Đầu vào: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Đầu ra:

Ở Việt Nam, về mức độ cho vay, thường có hai loại:

1) Giới hạn tín dụng cuối kỳ là số tiền mà khách hàng có thể vay tối đa vào ngày cuối kỳ mà số tiền vay thực tế cuối kỳ không được vượt quá.

2) Hạn mức tín dụng trong kỳ là số tiền được cấp thêm cho hạn mức tín dụng cuối kỳ trong trường hợp hoạt động kinh doanh của đơn vị vay vốn không đều đặn và có nhu cầu vay vốn vượt quá hạn mức tín dụng cuối kỳ. Số tiền này phải được trả lại trong kỳ để đảm bảo số dư thực tế cuối kỳ phù hợp với hạn mức tín dụng cuối kỳ quy định.

3. Các phương thức giới hạn tín dụng

Với hình thức này có thể khiến nhiều người bất ngờ, vì họ nghĩ rằng dù người vay có rủi ro tín dụng, nhưng tại sao ngân hàng không cho vay với lãi suất cao? Câu trả lời là do sự lựa chọn trái ngược đã ngăn cản việc ngân hàng cấp tín dụng.

Cá nhân và doanh nghiệp tham gia vào các dự án đầu tư rủi ro đều sẵn lòng chấp nhận mức lãi suất cao nhất. Nếu họ đồng ý đối mặt với rủi ro và thành công, họ sẽ trở thành những người giàu có. Tuy nhiên, ngân hàng không bao giờ cung cấp vốn cho các dự án như vậy vì chúng mang theo rủi ro.

Hậu quả có thể xảy ra là người vay sẽ không thành công và ngân hàng sẽ không được hoàn trả. Thu mức lãi suất cao, có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận một lựa chọn đối nghịch lớn, làm tăng khả năng ngân hàng cung cấp tín dụng cho những dự án mạo hiểm rủi ro cao.

Vì vậy, ngân hàng sẽ không cung cấp bất kỳ khoản vay nào với lãi suất vượt quá mức thông thường; thay vào đó, ngân hàng sẽ từ chối cung cấp tín dụng.

Ngân hàng giới hạn việc cho vay nhằm đề phòng với nguy cơ đạo đức. Sự hạn chế này là cần thiết, vì mức vay càng cao, thì càng khuyến khích nguy cơ đạo đức phát sinh.

Ví dụ, trong trường hợp ngân hàng cấp một số tiền vay là 100 triệu đồng, người vay sẽ cố gắng trả nợ đầy đủ và đúng hạn, vì người vay không muốn gặp khó khăn trong việc vay tiền từ ngân hàng trong tương lai. Tuy nhiên, nếu ngân hàng cho vay một số tiền lớn là 10 tỉ đồng, nguy cơ phát sinh rủi ro đạo đức đối với khách hàng sẽ rất cao.

Do đó, nếu số tiền vay vượt quá mức cần thiết, người vay sẽ gặp nhiều rủi ro và không thể trả nợ. Vì hầu hết người vay chỉ trả nợ khi số tiền vay nhỏ, ngân hàng giới hạn số tiền vay thấp hơn số tiền mà người vay yêu cầu.

Một trong các biện pháp giới hạn việc vay là yêu cầu người vay phải có một tỷ lệ vốn cần đặt vào dự án đầu tư.

4. Các giới hạn về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

Các giới hạn về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng được biểu thị bằng những hạn chế về tín dụng.

Theo quy định tại điều 19 Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng, tổ chức tín dụng không được phép cho vay cho các đối tượng sau đây:

a) Các thành viên của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của cơ quan tài chính.

b) Các công chức, nhân viên của tổ chức tín dụng đó tiến hành nhiệm vụ đánh giá, đưa ra quyết định về việc cấp vay;

c) Cha mẹ, người phối ngẫu, người chồng, người vợ, con cái của thành viên Ban quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc điều hành (Giám đốc), Phó giám đốc điều hành (Phó giám đốc).

2. Những quy định tại mục 1 điều này không áp dụng cho các tổ chức tín dụng hợp tác.

3. Việc áp dụng quy định tại điểm c Khoản 1 Điều này đối với người vay là cha, mẹ, vợ, chồng, con của Giám đốc, Phó Giám đốc chi nhánh của tổ chức tín dụng do tổ chức tín dụng xem xét quyết định.

Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo tránh sự thiên vị đối đặc biệt của tổ chức tín dụng đối với khách hàng là các đối tượng trên, đảm bảo sự công bằng cho tất cả các khách hàng khi tham gia vào hoạt động vay vốn, cũng nhằm tránh việc những đối tượng trên có ý định lợi dụng chức vụ quyền hạn nhằm trục lợi từ hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.

Các tổ chức tín dụng không được cấp vay cho khách hàng mà không có tài sản đảm bảo, cung cấp các điều kiện ưu đãi về lãi suất và mức vay đối với những đối tượng sau đây theo quy định tại Điều 20 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN.

1. Cơ quan kiểm toán, người kiểm toán phụ trách kiểm toán tại tổ chức tín dụng cung cấp vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cung cấp vay; Trưởng phòng kế toán của tổ chức tín dụng cung cấp vay.

2. Những cổ đông quan trọng của tổ chức tín dụng

Doanh nghiệp có một trong những nhóm mục tiêu được quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.

Quy định trên cũng có một số hạn chế. Ví dụ, việc xác định lãi suất cho vay được thực hiện thông qua thoả thuận với nhiều mức khác nhau, không chỉ có một mức lãi suất cố định như trước đây. Do đó, nếu cho vay các đối tượng nói trên với mức lãi suất thấp, không thể kết luận rằng đó là ưu đãi hay không ưu đãi về lãi suất.

Quy định không rõ ràng về việc kế toán trưởng là người của ngân hàng hay của doanh nghiệp vay vốn. Đồng thời, cũng không đề cập rõ thanh tra viên là của ngân hàng hay của cơ quan nào. Trên thực tế, hiện tại được hiểu là có hạn chế cấp tín dụng cho kế toán trưởng của ngân hàng cho vay. Còn với thanh tra viên, hiểu là người của các cơ quan nhà nước đang thực hiện thanh tra tại ngân hàng đó (tương tự như với kiểm toán viên).

5. Quy định về giới hạn cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

5.1 Những trường hợp giới hạn việc cung cấp tín dụng

Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ không được cấp tín dụng nếu không có bảo đảm. Tuy nhiên, nếu có điều kiện ưu đãi (như lãi suất ưu đãi, hồ sơ và thủ tục xét duyệt tín dụng đơn giản hơn), thì tín dụng có thể được cấp cho các đối tượng này. Đồng thời, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ nợ và các biện pháp xử lý thu hồi nợ cũng phải tuân theo quy định của pháp luật và quy định nội bộ về cấp tín dụng và quản lý tiền vay. Mục đích của việc này là để đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích cho khách hàng và những người có liên quan.

a) Tổ chức kiểm toán, nhân viên kiểm toán đang thực hiện kiểm toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng quốc tế; nhân viên thanh tra đang tiến hành thanh tra tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng quốc tế;

b) Người phụ trách kế toán của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng quốc tế.

c) Cổ đông chủ chốt, cổ đông khởi sự;

d) Doanh nghiệp có một trong những cá nhân hoặc tổ chức có quyền lợi liên quan sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó;

đ) Người đánh giá, phê duyệt cấp tín dụng;

e) Các đơn vị con, đơn vị liên kết của tổ chức tài chính hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tài chính có quyền kiểm soát.

5.2 Báo cáo Hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: 5.2 Báo cáo Đại hội cổ đông, Đại hội thành viên

– Việc cấp vay cho những đối tượng quy định trên phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài) thông qua và công khai trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

– Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thông báo tới Đại hội đồng cổ đông, Đại hội thành viên về các khoản tín dụng đã được cấp cho các đối tượng theo quy định tại thời điểm thu thập dữ liệu để tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông, Đại hội thành viên; thông báo tới chủ sở hữu, thành viên góp vốn, người quản lý, người điều hành và Ngân hàng Nhà nước (Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng) khi có sự phát sinh các khoản tín dụng cho các đối tượng đó.

Tổng số tiền mà các đối tượng sau đang nợ không được vượt quá 5% số tiền mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có sẵn.

a) Tổ chức kiểm toán, nhân viên kiểm toán đang thực hiện kiểm toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng quốc tế; nhân viên thanh tra đang tiến hành thanh tra tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng quốc tế;

b) Người phụ trách kế toán của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng quốc tế.

c) Cổ đông chủ chốt, cổ đông khởi sự;

d) Doanh nghiệp có một trong những cá nhân hoặc tổ chức có quyền lợi liên quan sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó;

đ) Người đánh giá, phê duyệt cấp tín dụng;

– Tổng số tiền mà công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng kiểm soát không được vượt quá 10% số tiền mà tổ chức tín dụng sở hữu; đối với tất cả các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng kiểm soát không được vượt quá 20% số tiền mà tổ chức tín dụng sở hữu.

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Định nghĩa hạn chế tín dụng và những người bị hạn chế cấp tín dụng