Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

Đơn vị sự nghiệp công lập: khái niệm và đặc điểm

Đơn vị sự nghiệp công lập là một thuật ngữ phổ biến trong lĩnh vực quản lý công. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ về khái niệm này và đặc điểm của nó. Vậy, đơn vị sự nghiệp công lập là gì? Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập là gì? Để giải đáp những câu hỏi này, chúng ta cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây. Hãy cùng nhau khám phá và hiểu rõ hơn về đơn vị sự nghiệp công lập nhé!

Chia sẻ

1. Định nghĩa tổ chức công việc công cộng

Cơ quan công lập là các tổ chức được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp các dịch vụ công, phục vụ cho việc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, lao động – thương binh và xã hội, truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được quy định bởi pháp luật.

Là một tổ chức được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp các dịch vụ công, phục vụ cho việc quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động – thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được quy định bởi pháp luật.

Cơ quan công việc công cộng bao gồm:

  • Cơ quan công lập có độc lập hoàn toàn trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quản lý tài chính, tổ chức cơ cấu và nhân sự.
  • Cơ quan công lập chưa được ủy quyền hoàn toàn về việc tự quyết định và thực hiện các nhiệm vụ, quản lý tài chính, tổ chức và nhân sự.
  • Ví dụ như: Trường Đại học Công nghiệp dưới sự quản lý của Bộ công thương là một tổ chức công lập. Bệnh viện 115 thuộc quản lý của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh…Các tổ chức nghiên cứu, sự nghiệp (nghiên cứu khoa học kỹ thuật và giáo dục (bệnh viện, trường, viện nghiên cứu)… Đối với các cơ quan quản lý các ngành sự nghiệp, những tổ chức này là những đơn vị cơ bản thực hiện nhiệm vụ của ngành.

    Các tổ chức chính trị chủ yếu bao gồm các trung tâm nghiên cứu, trường đại học, cơ sở y tế… thuộc sở hữu và quản lý của nhà nước.

    Xem xét từ góc độ pháp lý, các tổ chức công lập có thể được phân loại như sau:

    – Cơ quan thuộc Bộ, tổ chức ngang hàng với Bộ;
    Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
    Output:

    – Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục;
    Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
    Output: – Cơ quan thuộc Tổng cục, Cục;

    – Cơ quan trong Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

    – Tổ chức thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    – Cơ quan trong Ủy ban nhân dân cấp huyện.

    Trong đó, các tổ chức công lập thuộc Bộ, cơ quan tương đương Bộ bao gồm:

    – Các tổ chức công lập được quy định tại nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Và cấu trúc tổ chức của từng Bộ, cơ quan tương đương Bộ (các tổ chức nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực; báo; tạp chí. Trung tâm thông tin hoặc tin học. Trường hoặc trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện). Và các tổ chức công lập trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    2. Đặc trưng của tổ chức công lập

    Các tổ chức nghề nghiệp thuộc các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, trong đó chủ yếu là các cơ quan nhà nước.

    Cơ quan công lập là tổ chức do nhà nước đầu tư và xây dựng để hoạt động, tùy thuộc vào từng loại cơ quan công lập mà nhà nước cung cấp nguồn tài chính ở các mức độ khác nhau.

    Các tổ chức công lập được thành lập với mục đích cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực nhà nước chịu trách nhiệm cung cấp cho người dân hoặc lĩnh vực mà khu vực tư nhân không có khả năng đầu tư hoặc không quan tâm để đầu tư.

    Tiếp theo là cơ chế hoạt động của các công việc trong lĩnh vực công lập đang ngày càng được cải tiến theo hướng tự quản và được thực hiện ghi sổ một cách độc lập.

    Các tổ chức công lập hoạt động theo cơ chế thủ trưởng và tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tránh lạm quyền, vượt quyền và chống tham nhũng. Pháp luật đã quy định việc thành lập Hội đồng quản lý tại các tổ chức công lập để đảm bảo sự chi thường xuyên và đầu tư vào các tổ chức công lập khác khi cần thiết.

    Nhân viên tại cơ quan công lập chủ yếu được tuyển dụng theo vị trí công việc, theo hợp đồng, được quản lý, sử dụng tư cách là viên chức. Trong khi đó thì người đứng đầu cơ quan công lập là công chức.

    Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự quản của đơn vị sự nghiệp công lập đã phân loại đơn vị sự nghiệp công lập thành 4 nhóm.

  • Đơn vị đảm bảo chi tiêu thường xuyên và chi tiêu đầu tư;
  • Đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên.
  • Đơn vị tự đảm bảo một phần chi thường xuyên.
  • Cơ quan được chính phủ đảm bảo cung cấp tiền thường xuyên.
  • 3. Quy định mới về cơ chế tự quản tài chính của tổ chức công lập.

    3.1. Thay đổi quy định về nguồn vốn
    Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
    Output: 3.1. Điều chỉnh quy định về nguồn tài chính

    Về vấn đề tài chính, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định về nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) theo hướng tổng hợp tất cả các nguồn lực, chưa có sự phân chia rõ ràng giữa nguồn thu từ hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao và các hoạt động kinh doanh dịch vụ.

    Để khắc phục nhược điểm trên, Nghị định số 60/2021/NĐ-CP điều chỉnh chi tiết về nguồn tài chính của các tổ chức công lập bằng cách phân chia rõ ràng nguồn thu. Cụ thể, nguồn thu từ hoạt động công lập bao gồm:

    3.2. Tự quản trong hoạt động hợp tác, kết nối

    Nghị định số 16/2015/NĐ-CP chưa quy định rõ ràng các hình thức hợp tác kinh doanh và việc phân phối lợi nhuận từ hoạt động hợp tác kinh doanh của các tổ chức công lập.

    Vì vậy, để đảm bảo sự đồng bộ và thống nhất trong việc phân phối kết quả từ hoạt động liên doanh liên kết của các tổ chức công lập, Nghị định 60/2021/NĐ-CP đã điều chỉnh quy định về sự tự chủ trong hoạt động liên doanh, liên kết.

    Theo quy định tại Nghị định 60/2021/NĐ-CP, các tổ chức công lập được phép tự quản, tự chịu trách nhiệm hợp tác kinh doanh, hợp tác với các tổ chức, cá nhân để cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội. Việc sử dụng tài sản công cho mục đích hợp tác kinh doanh, hợp tác phải tuân thủ các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 55 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

    Nghị định này không quy định việc sử dụng thương hiệu, giấy phép, bản quyền tác phẩm để hợp tác, kết hợp thông qua việc thành lập một đơn vị pháp nhân mới. Trong trường hợp hợp tác, kết hợp thông qua việc thành lập một đơn vị pháp nhân mới, đơn vị sự nghiệp công lập sẽ thực hiện theo các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản công, pháp luật về đầu tư, pháp luật về sở hữu trí tuệ và các pháp luật liên quan khác.

    Việc chia sẻ kết quả của hoạt động liên doanh, liên kết được thực hiện theo thỏa thuận trong Hợp đồng liên doanh, liên kết, chi tiết như sau:

    – Đối với hình thức liên doanh, liên kết không thành lập pháp nhân mới: Cơ quan công lập thực hiện thêm toàn bộ kết quả của hoạt động liên doanh, liên kết vào nguồn tài chính của cơ quan có hoạt động liên doanh, liên kết theo kế hoạch liên doanh, liên kết đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    – Về việc thành lập một pháp nhân mới thông qua hình thức liên doanh, liên kết: số tiền thu được từ việc chia sẻ kết quả hoạt động của liên doanh, liên kết sau khi trừ đi các chi phí lãi vay, chi phí thuê tài sản được đóng góp vào vốn (nếu có); phần thu nhập còn lại của đơn vị sự nghiệp công lập được quản lý và sử dụng theo kế hoạch liên doanh, liên kết được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    4. Tình trạng thực hiện cơ chế tự quản tài chính của các tổ chức công lập

    Trong thời gian gần đây, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đã được thực hiện theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định trên. Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP vào ngày 14/2/2015 để thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Nghị định số 16/2015/NĐ-CP đã tập trung vào việc đổi mới toàn diện các đơn vị sự nghiệp công lập; tăng cường việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính.

    Theo đó, đơn vị sự nghiệp có thể tự chủ tài chính ở 4 mức độ khác nhau: (i) Tự chủ tài chính đối với các chi phí thường xuyên và chi phí đầu tư mà đơn vị tự bảo đảm; (ii) Tự chủ tài chính đối với các chi phí thường xuyên mà đơn vị tự bảo đảm; (iii) Tự chủ tài chính đối với một phần các chi phí thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa đủ để bù đắp chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí); (iv) Tự chủ tài chính đối với các chi phí thường xuyên được Nhà nước bảo đảm (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp).

    Thực tế trong thời gian gần đây đã chứng minh rằng việc thực hiện việc giao quyền tự chủ tài chính cho các tổ chức công lập đã mang lại một số kết quả tích cực. Các tổ chức công lập đã tự ý sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả. Đồng thời, họ cũng tự ý sử dụng tài sản và nhân lực để phát triển và cải thiện hoạt động cung cấp dịch vụ công, từ đó tạo ra nguồn thu.

    Thu nhập của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập đã được tăng lên nhờ việc tăng cường khai thác nguồn thu, tiết kiệm chi và thực hiện cơ chế tự chủ. Điều này đã đảm bảo một phần nhu cầu tiền lương tăng thêm của họ. Trong lĩnh vực giáo dục đại học, một số đơn vị đã tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động và chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động khoảng 2 – 3 lần so với tiền lương cấp bậc của đơn vị. Ví dụ như Đại học Quốc tế – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

    Về việc tổ chức lại và cải cách biên chế, trong năm 2018, một số địa phương đã thực hiện mạnh mẽ và đạt được một số thành tựu nhất định. Tại Hà Nội, sau khi thực hiện tổ chức lại, cải cách, các đơn vị công lập thuộc sở, ban, ngành đã giảm từ 401 đơn vị xuống còn 280 đơn vị (giảm tương đương 30,2%); các đơn vị công lập cấp huyện đã giảm từ 206 đơn vị còn 96 đơn vị (giảm tương đương 53,4%). Tại tỉnh Quảng Ninh, địa phương này đã chuyển quyền tự chủ tài chính cho 84 đơn vị công lập (tăng 15 đơn vị so với năm 2017), có thêm 1.442 viên chức không nhận lương từ nguồn ngân sách nhà nước (trong đó, số viên chức của 4 Bệnh viện thuộc Sở Y tế là 1.264 người), kinh phí ngân sách cấp năm 2018 giảm 120 tỷ đồng so với năm 2017.

    Trong khoảng thời gian từ 2017 đến 2018, chỉ tính riêng ở cấp Trung ương, các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo đã giảm số tiền trực tiếp từ ngân sách nhà nước cấp cho các tổ chức công lập mỗi năm khoảng 1.000 tỷ đồng.

    Tuy nhiên, kết quả này chỉ tập trung vào một số tổ chức năng động, sáng tạo và có uy tín trong việc cung cấp dịch vụ công việc hoặc trong một số ngành nghề có khả năng xã hội hóa cao.

    Theo báo cáo không đầy đủ của các bộ, ngành và địa phương, cho đến nay, tỷ lệ các tổ chức công lập tự bảo đảm kinh phí hoạt động vẫn thấp, chiếm khoảng 3,7% tổng số các tổ chức công lập của cả nước, tương đương 2.057 tổ chức công lập. Việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức công lập vẫn chậm, chưa có sự thay đổi đáng kể; chưa phân biệt rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ công. Một số chính sách là điều kiện quan trọng để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức công lập chưa được chỉnh sửa, bổ sung và ban hành đầy đủ kịp thời; một số tổ chức công lập khi mở rộng hoạt động dịch vụ vẫn chỉ quan tâm đến số lượng, mà không quan tâm đến chất lượng hoạt động, lạm dụng kỹ thuật để tăng thu nhập. Đồng thời, vẫn còn sự chênh lệch lớn giữa các vùng, miền, giữa Trung ương và địa phương trong các hoạt động của các tổ chức công lập… do đó việc sử dụng các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển hoạt động cung cấp dịch vụ công vẫn bị hạn chế.

    5. Tìm ra phương án để nâng cao khả năng tự quản lý tài chính cho các tổ chức công lập.

    Để đảm bảo hoạt động của các tổ chức công lập, ngoài việc ban hành đầy đủ khung pháp lý về cơ chế tự quản, bao gồm cả tự quản tài chính, chúng ta cần tiếp tục cải tiến cơ chế quản lý, sắp xếp và tổ chức lại hoạt động của các tổ chức công lập theo tinh thần của Nghị quyết số 19/NQ-TW của Hội nghị Trung ương 6 Khóa XII về cải tiến hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức công lập. Mục tiêu là đến năm 2021, đạt được 10% tổ chức tự quản tài chính, giảm 10% số tiền trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các tổ chức công lập so với giai đoạn 2011 – 2015; Đến năm 2025, có ít nhất 20% tổ chức tự quản tài chính; 100% tổ chức kinh tế và tổ chức khác có đủ điều kiện để chuyển đổi thành công ty cổ phần.

    Cùng với việc triển khai Nghị quyết 19, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ. Trong đó, các Bộ được giao nhiệm vụ nghiên cứu chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Bộ Tài chính đã phát hành Quyết định số 429/QĐ-BTC về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-CP và đang tích cực hợp tác với các Bộ, địa phương để triển khai các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 19. Mục tiêu là giảm dần số lượng các đơn vị sự nghiệp công lập do Ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi hoạt động thường xuyên và tăng số lượng các đơn vị tự chủ tự bảo đảm về tài chính.

    Trong thời gian sắp tới, khi các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực đã hoàn thiện và trình cấp có thẩm quyền ban hành đầy đủ danh sách dịch vụ công sử dụng nguồn vốn nhà nước, việc hỗ trợ từ nguồn vốn nhà nước sẽ liên quan đến số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ công được cung cấp, giá cung cấp dịch vụ và nhu cầu sử dụng để đảm bảo hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn nhà nước, tránh lãng phí; thúc đẩy thực hiện cơ chế đặt hàng thực hiện dịch vụ công có lộ trình cụ thể thực hiện cơ chế đấu thầu cung cấp dịch vụ công sử dụng nguồn vốn nhà nước để tạo điều kiện cho các tổ chức ngoài công lập cùng tham gia cung cấp; giảm dần các sản phẩm, dịch vụ công sử dụng nguồn vốn nhà nước thực hiện theo phương thức giao nhiệm vụ, giao kế hoạch.

    6. Các câu hỏi thường gặp về tổ chức công việc công cộng

    6.1 Các tổ chức công cộng bao gồm những tổ chức nào?

    Theo quy định tại Điều 9 Khoản 2 của Luật Viên chức 2010, các tổ chức công lập bao gồm:

    – Cơ quan công lập có đầy đủ quyền tự chủ về việc thực hiện nhiệm vụ, quản lý tài chính, tổ chức cơ cấu và quản lý nhân sự (cơ quan công lập có quyền tự chủ).

    – Các tổ chức công lập chưa được ủy quyền hoàn toàn về việc thực hiện nhiệm vụ, quản lý tài chính, tổ chức cơ cấu và quản lý nhân sự (các tổ chức công lập chưa được tự chủ). Đây chủ yếu là các Viện nghiên cứu, Bệnh viện… thuộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    6.2 Phân biệt với tổ chức không thuộc ngành công lập?

    Các tổ chức sự nghiệp không thuộc công lập là những tổ chức, đơn vị không thuộc phạm vi của nhà nước, được thành lập bởi các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cá nhân hoặc liên doanh giữa các tổ chức với nước ngoài, có tư cách pháp nhân, cung cấp các dịch vụ công, hoạt động theo mô hình kinh doanh.

    Các tổ chức không thuộc công lập, mà thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân, cá nhân hoặc tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài được gọi là đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Ví dụ như các trường học tư, bệnh viện tư, bảo tàng tư, tổ chức nghiên cứu khoa học tự do. Các đơn vị này thường hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động chủ yếu dựa trên quy định về quan hệ lao động. Vì vậy, nhân viên làm việc trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập thường không được nhận lương từ nguồn ngân sách nhà nước.

    Các cơ quan nhà nước là người sử dụng lao động trong các tổ chức công lập, do đó, các quy trình tuyển dụng, sử dụng, quản lý, chế độ và chính sách đối với viên chức trong các tổ chức này thường không giống với tổ chức ngoài công lập. Thêm vào đó, nhà nước có thể áp đặt một số nghĩa vụ bắt buộc đối với viên chức trong các tổ chức công lập.

    Trong khi đó, các tổ chức kinh doanh ngoài công lập đang được tổ chức và hoạt động chủ yếu theo mô hình của doanh nghiệp. Do đó, việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động trong các tổ chức này sẽ dựa trên cơ chế pháp lý chung cho việc tuyển dụng và quản lý các nhóm này.

    Mục lục

    Chia sẻ

    Cám ơn bạn đã đặt hàng

    Đơn hàng đã được đặt thành công

    Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

    Tải về Đơn vị sự nghiệp công lập: khái niệm và đặc điểm