Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

  • Home
  • Kiến thức
  • Khái niệm tiền gửi và cách phòng ngừa rủi ro tiền gửi và bảo hiểm tiền gửi

Khái niệm tiền gửi và cách phòng ngừa rủi ro tiền gửi và bảo hiểm tiền gửi

Tiền gửi là một khái niệm quen thuộc trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng. Nhưng bạn có biết đúng nghĩa của nó là gì không? Và tại sao chúng ta cần phòng ngừa rủi ro tiền gửi và bảo hiểm tiền gửi? Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về khái niệm tiền gửi, những rủi ro mà người gửi tiền có thể gặp phải và cách để bảo vệ tiền gửi của mình. Hãy cùng khám phá và tìm hiểu thêm về chủ đề thú vị này!

Chia sẻ

1. Cơ sở pháp lý quy định về khoản tiền được gửi trữ

– Sửa đổi và bổ sung Luật về các tổ chức tài chính năm 2010 vào năm 2017.

– Quy định về Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 (được chỉnh sửa, bổ sung vào năm 2013)

– Quy định 48/2018/TT-NHNN

– Quy định 49/2018/TT-NHNN

2. Tiền gửi là gì?
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: Tiền gửi là cái gì?

Tiền gửi tại các tổ chức tài chính bao gồm các loại tiền gửi của tổ chức (ngoại trừ tổ chức tín dụng), cá nhân dưới dạng tiền gửi không có thời hạn, tiền gửi có thời hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và các hình thức tiếp nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ số tiền gốc và lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.

3. Đề phòng nguy cơ mất tiền gửi

3.1. Quy định về phòng ngừa nguy cơ mất tiền gửi

Theo quy định tại Điều 16 về “Xử lý các trường hợp rủi ro” trong Thông tư số 48/2018/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, pháp luật chỉ quy định một cách tổng quát về việc giải quyết rủi ro trong giao dịch tiền gửi. Điều này bao gồm việc tổ chức tín dụng hướng dẫn cách xử lý trong trường hợp thẻ tiết kiệm bị hỏng, mất hoặc hợp đồng tiền gửi bị mất, cũng như các trường hợp rủi ro khác liên quan đến tiền gửi, phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan, mô hình quản lý, đặc điểm và điều kiện kinh doanh của tổ chức tín dụng, nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.

Ngoài ra, Thông tư số 49/2018/TT-NHNN cũng quy định về việc xử lý các trường hợp rủi ro liên quan đến tài khoản thanh toán. Điều 14 của Thông tư này đề cập đến việc xử lý các trường hợp rủi ro liên quan đến tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, ngoài ra còn có quy định cụ thể về rủi ro. Theo quy định này, chủ tài khoản có trách nhiệm chịu thiệt hại nếu có sai sót hoặc bị lợi dụng, lừa đảo khi sử dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình. Tương tự, ngân hàng cũng có trách nhiệm chịu thiệt hại nếu có sai sót hoặc bị lợi dụng, lừa đảo trên tài khoản thanh toán của khách hàng do lỗi của mình. (Điểm g khoản 2 Điều 5 về “Quyền và nghĩa vụ của chủ tài khoản thanh toán”; điểm g khoản 2 Điều 6 về “Quyền và nghĩa vụ của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán”, Thông tư số 23/2014/TT-NHNN).

3.2. Thực hiện áp dụng quy định về đề phòng nguy cơ tiền gửi.

Trong thực tế, trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2020, đã xảy ra nhiều sự cố liên quan đến việc mất tiền gửi nói chung và tiền tiết kiệm nói riêng, gây ra tranh cãi phức tạp về trách nhiệm bồi thường.

Theo quy định trên, nếu có lỗi xảy ra, thì bên gây ra lỗi sẽ phải chịu thiệt hại. Tuy nhiên, việc xác định lỗi do khách hàng hay ngân hàng gần như luôn do ngân hàng tự đưa ra kết luận. Vấn đề khó khăn là việc xác định lỗi quan trọng nhất dẫn đến việc mất tiền do bị lợi dụng, lừa đảo. Đặc biệt, nếu cả hai bên đều có sai sót, thì việc xác định sai sót quyết định dẫn đến việc mất tiền trở nên khó khăn.

Vì vậy, để giảm thiểu những nguy cơ không cần thiết, người gửi tiền cần chú ý một số vấn đề sau đây:

The law stipulates that banks must provide a method for depositors to inquire about their savings deposits. Additionally, banks and depositors may agree on other methods for depositors to inquire about their savings deposits and for banks to notify depositors of any changes to their savings deposits (Article 11 of Circular No. 48/2018/TT-NHNN). Similarly, there are regulations regarding time deposits (Article 8 of Circular No. 49/2018/TT-NHNN dated December 31, 2018).

Quy định trên có thể bị hiểu sai là người gửi tiền chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn tiền gửi. Thực tế, việc kiểm tra số dư không đảm bảo an toàn, mà chỉ để biết xem tiền gửi còn hay đã mất. Hơn nữa, nếu khách hàng phải thường xuyên kiểm tra số dư để biết có mất tiền hay không, thì cũng có nghĩa là họ không tin tưởng vào sự an toàn của ngân hàng.

Việc xác minh, kiểm tra số dư tiền gửi là quyền của khách hàng và không phải là nghĩa vụ. Không có quy định nào yêu cầu kiểm tra hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng hoặc hàng năm, và không kiểm tra cũng không vi phạm quy định và không phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ rủi ro nào do không kiểm tra.

Không có quy định nào của luật pháp, thậm chí trong số các nghĩa vụ của người sở hữu tài khoản thanh toán về trách nhiệm của khách hàng trong việc kiểm tra thông tin tài khoản nói chung và thông tin tiền gửi nói riêng.

Do đó, người mua hàng có quyền chấp nhận hoặc từ chối các biện pháp này và có quyền kiểm tra hoặc không kiểm tra số tiền gửi mà không gặp phải vấn đề mất mát tiền gửi.

Ngân hàng chịu trách nhiệm đảm bảo tính chính xác và an toàn hoàn toàn của tiền gửi. Việc kiểm tra không có tác dụng phòng ngừa rủi ro, mà chỉ nhằm đóng góp vào việc xử lý, khắc phục hậu quả và rút ra trách nhiệm kịp thời.

4. Quy định về bảo hiểm khoản tiền được gửi trữ
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: 4. Quy định về bảo vệ số tiền được gửi vào tài khoản

Bảo hiểm tiền gửi là việc đảm bảo trả lại số tiền gửi cho người gửi khi tổ chức tín dụng không thể trả tiền gửi hoặc phá sản.

Bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, đóng góp vào việc duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tài chính, đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Ngân hàng có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo vệ, bảo hiểm số tiền được gửi theo quy định của pháp luật và công khai bản sao Chứng nhận tham gia bảo hiểm số tiền được gửi tại tất cả các điểm giao dịch có chấp nhận tiền gửi.

Cho đến năm 2019, chỉ có việc áp dụng hình thức bảo hiểm một phần số tiền gửi, chưa có việc bảo hiểm toàn bộ số tiền gửi.

Pháp luật quy định về bảo vệ tiền gửi như sau:

Đầu tiên, người được bảo hiểm số tiền gửi chỉ là cá nhân.

Vì vậy, tiền gửi từ pháp nhân không được bảo hiểm. Mặc dù khoản tiền gửi là quỹ bảo trì của chung cư, được quy định là ‘gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng’, nhưng nó không được bảo hiểm, dù là do chủ đầu tư hoặc ban quản trị chung cư gửi, vì nó không phải là tiền gửi tiết kiệm và không phải là tiền gửi cá nhân theo quy định của ngân hàng.

Năm 2005, quy định về bảo hiểm tiền gửi đã nêu rõ rằng, cá nhân được bảo hiểm bao gồm cả ‘hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh’. Tuy nhiên, sau đó, quy định này đã hết hiệu lực, nhưng vẫn được hiểu là cá nhân bao gồm cả hộ gia đình, tổ hợp tác và doanh nghiệp tư nhân, vì chúng có địa vị pháp lý tương tự như cá nhân. Riêng công ty hợp danh, vào thời điểm năm 2005, chưa có tư cách pháp nhân, nhưng từ năm 2006, đã có tư cách pháp nhân, do đó không còn được bảo hiểm tiền gửi, vì không còn được coi là cá nhân.

Vào ngày thứ hai, các tổ chức tài chính phải tham gia bảo hiểm tiền gửi của cá nhân, trừ khi là Ngân hàng chính sách.

Vào ngày thứ ba, người được bảo vệ tiền gửi không cần phải trả phí bảo hiểm. Tuy nhiên, tổ chức tài chính phải đóng phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tài chính của nhà nước, hoạt động không vì mục đích kiếm lợi.

Trong ngày thứ tư, tiền gửi của cá nhân được bảo hiểm là số tiền gửi bằng đồng Việt Nam dưới các hình thức tiền gửi có thời hạn, không thời hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức tiền gửi khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.

Do đó, không có hình thức nào tại các tổ chức tín dụng mà tiền gửi bằng đồng ngoại tệ được bảo hiểm.

Thứ năm, số tiền gửi không được đảm bảo trong các trường hợp dưới đây:

+ Cá nhân sở hữu hơn 5% vốn điều lệ (là cổ đông lớn) của tổ chức tín dụng có thể gửi tiền vào tài khoản.

+ Số tiền gửi của cá nhân là thành viên của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc của tổ chức tín dụng.

+ Số tiền để mua các tài liệu không tên do tổ chức tín dụng phát hành.

Vào ngày thứ sáu, tổ chức tín dụng sẽ trả lại cho mỗi người số tiền bảo hiểm tương đương với tổng số tiền gửi, bao gồm cả số tiền gốc và số tiền lãi, nhưng không vượt quá hạn mức bảo hiểm.

Hạn mức trả tiền bảo hiểm là số tiền tối đa mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các số tiền gửi được bảo hiểm của một cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.

Năm 1999, mức bảo hiểm tối đa là 30 triệu đồng, năm 2005, tăng lên 50 triệu đồng. Từ năm 2017, mức bảo hiểm tối đa được nâng lên 75 triệu đồng.

Khi số tiền gửi vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm, việc phân chia sẽ được giải quyết tương tự như việc xử lý khoản nợ không có bảo đảm trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tín dụng bị phá sản theo quy định của pháp luật.

Vào ngày thứ bảy, người gửi tiền sẽ nhận được tiền bảo hiểm sau 60 ngày kể từ khi Ngân hàng Nhà nước kết thúc kiểm soát đặc biệt hoặc các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn đang trong tình trạng phá sản.

Vì vậy, để đảm bảo sự an toàn trong việc gửi tiền vào ngân hàng và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, các quy định pháp luật ngân hàng và các quy định liên quan đã ghi nhận các biện pháp nhằm ngăn chặn rủi ro tiền gửi và bảo vệ tiền gửi. Tuy nhiên, cho đến nay, các quy định này vẫn chưa được thực hiện một cách nghiêm ngặt. Trong thời đại kinh tế số, rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ ngày càng tăng cao, do đó, cần rà soát và đưa ra các quy chuẩn để đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng một cách hiệu quả trên thực tế.

5. Những câu hỏi thường được đặt về việc gửi tiền và bảo hiểm tiền gửi

5.1 Người được bảo vệ số tiền gửi là ai?

Người đăng ký bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có số tiền gửi được bảo vệ tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

5.2 Ai là người quản lý tổ chức tín dụng?

Người điều hành tổ chức tín dụng bao gồm Chủ tịch (Chủ tịch), Phó Chủ tịch (Phó Chủ tịch), Kế toán trưởng, Trưởng chi nhánh và các vị trí tương đương theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng.

5.3 Cơ quan nào cần tham gia bảo hiểm số tiền được gửi?

Dựa trên Điều 4 của Nghị định 68/2013/NĐ-CP hướng dẫn về luật bảo hiểm tiền gửi, (i) Các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bao gồm các tổ chức tài chính, các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài, nhận tiền gửi từ cá nhân, bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân và các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật về các tổ chức tài chính. (ii) Các tổ chức tài chính vi mô phải tham gia bảo hiểm tiền gửi cho tiền gửi của cá nhân, bao gồm cả tiền gửi tự nguyện của khách hàng tài chính vi mô, trừ tiền gửi tiết kiệm bắt buộc theo quy định của các tổ chức tài chính vi mô.

Dưới đây là sự hướng dẫn của chúng tôi về các biện pháp đảm bảo an toàn cho tiền gửi. Nếu có bất kỳ vấn đề pháp lý liên quan đến luật ngân hàng hoặc hoạt động của ngân hàng, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi qua số điện thoại 1900.6162 để được tư vấn.

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Khái niệm tiền gửi và cách phòng ngừa rủi ro tiền gửi và bảo hiểm tiền gửi