Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

  • Home
  • Kiến thức
  • Mục đích của hình phạt là gì? Ý nghĩa và ví dụ của hình phạt

Mục đích của hình phạt là gì? Ý nghĩa và ví dụ của hình phạt

Hình phạt là một khái niệm phổ biến trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, ít ai thực sự hiểu rõ về mục đích và ý nghĩa của hình phạt. Vậy, hình phạt thực sự có tác dụng gì? Và nó có thể giúp cải thiện hành vi của người phạm tội hay không? Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về mục đích của hình phạt, ý nghĩa của nó và điểm qua một số ví dụ để có cái nhìn tổng quan về vấn đề này. Hãy cùng khám phá và suy ngẫm về tầm quan trọng của hình phạt trong xã hội ngày nay.

Chia sẻ

Theo quy định của Luật hình sự Việt Nam, mục đích của án phạt luôn có hai mặt: trừng trị và cải tạo, giáo dục. Hai mặt này có liên quan và hỗ trợ lẫn nhau. Án phạt đã được tuyên, một mặt thể hiện sự trừng trị cần thiết của Nhà nước đối với người đã vi phạm pháp luật, nhằm răn đe người vi phạm và ngăn chặn họ tái phạm. Mặt khác, án phạt cũng là phương tiện giáo dục để người vi phạm nhận thức và tuân thủ pháp luật, cũng như giáo dục người khác về tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống lại và ngăn ngừa tội phạm. Hai mục tiêu này của án phạt không thể tách rời mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trừng trị là cơ sở để giáo dục; giáo dục là sự phát huy tính tích cực của trừng trị.

1. Mục tiêu của hình phạt là gì?

Từ quy định này có thể suy ra hình phạt có những mục đích sau đây:

1.1 Mục tiêu ngăn chặn cá nhân

Mục đích phòng ngừa riêng được thể hiện trước hết ở chỗ, biện pháp trừng trị áp dụng đối với cá nhân hoặc tổ chức thương mại phạm tội không chỉ nhằm trừng phạt mà còn giáo dục, ngăn chặn họ phạm tội mới.

Nội dung cơ bản của phần này là việc cắt giảm, hạn chế những quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của luật hình sự đối với cá nhân hoặc tổ chức thương mại bị áp dụng hình phạt, ‘hình phạt trước hết thể hiện sự lên án, sự trừng phạt của Nhà nước, của xã hội đối với người phạm tội. Tuy nhiên, đó không chỉ là sự lên án, sự trừng phạt đơn thuần mà là biện pháp đặc biệt để răn đe (răn đe bằng tác động cưỡng chế nhà nước) để giáo dục, cải tạo (giáo dục, cải tạo bằng tác động cưỡng chế nhà nước) người bị kết án, ngăn ngừa họ tái phạm. Hình phạt cũng là biện pháp đặc biệt để hạn chế (có thể đến loại trừ) điều kiện tái phạm của người bị kết án’.

Mức độ của việc cắt giảm và hạn chế những quyền và lợi ích hợp pháp của họ phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội của hành vi vi phạm, vào cá nhân người vi phạm và các yếu tố giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Ngoài ra, việc quyết định hình phạt đối với các tổ chức kinh doanh vi phạm cũng phải dựa trên quy định của BLHS, xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội của hành vi vi phạm, việc tuân thủ pháp luật của tổ chức kinh doanh và các yếu tố giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với tổ chức kinh doanh (Điều 83 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Về nguyên tắc, hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội của hành vi vi phạm. Do đó, tội phạm càng nguy hiểm thì hình phạt áp dụng đối với họ càng nghiêm khắc. Tuy nhiên, theo luật hình sự Việt Nam, trừng trị không được coi là mục đích chính của hình phạt. Mục đích chính trong việc ngă

Trong việc ngăn chặn và trừng trị người hoặc tổ chức thương mại phạm tội, mục tiêu phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm là hai mục tiêu song song và liên quan chặt chẽ với nhau, chỉ có thể đạt được mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất là giáo dục và cải tạo người hoặc tổ chức phạm tội nếu áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. Việc Nhà nước trừng trị người phạm tội một cách công bằng là nội dung chính và quan trọng để tạo cơ sở cho việc cải tạo và giáo dục người phạm tội; ngược lại, giáo dục người hoặc tổ chức thương mại phạm tội là việc tận dụng tính tích cực của trừng trị. Vì vậy, có thể nói rằng trong mối quan hệ giữa trừng trị và giáo dục trong hình phạt, ‘trừng trị là mục tiêu nhưng cũng là phương tiện để đạt được mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất của hình phạt đối với người phạm tội là giáo dục và cải tạo họ’.

1.2 Mục tiêu phòng ngừa tổng quát

Theo quy định của luật hình sự Việt Nam, hình phạt còn được áp dụng với mục đích:

Nội dung cơ bản của mục đích phòng ngừa chung được thể hiện ở việc ngăn chặn người hoặc tổ chức kinh doanh khác vi phạm pháp luật. Nhà nước quy định các hình phạt trong Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đặc biệt khi áp dụng hình phạt đối với người hoặc tổ chức kinh doanh phạm tội trong từng trường hợp cụ thể không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân người hoặc tổ chức kinh doanh phạm tội mà còn ảnh hưởng đến tâm lý của các thành viên khác trong xã hội. Đối với những thành viên ‘không vững vàng’, hình phạt có tác dụng răn đe, ngăn chặn họ vi phạm pháp luật. Trong từng trường hợp, hình phạt làm cho những thành viên ‘không vững vàng’ nhận thức được hậu quả pháp lý – Trách nhiệm hình sự mà họ tất yếu phải chịu trách nhiệm nếu họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm. Với sự răn đe này, hình phạt có mục đích ngăn chặn, giáo dục những thành viên ‘không vững vàng’ tuân theo pháp luật, ‘từ bỏ ý định phạm tội hoặc thận trọng hơn trong hành vi để tránh bị xử lý trở thành tội phạm’.

Đối với những thành viên khác trong cộng đồng, hình phạt nhằm mục đích giáo dục và nâng cao nhận thức về luật pháp cho họ, khích lệ, thúc đẩy sự tham gia tích cực của đại đa số người dân trong cuộc chiến chống tội phạm.

Để đạt được mục tiêu chung của việc ngăn chặn hình phạt, vấn đề cần giải quyết là thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp như: kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp lý, văn hóa, giáo dục… Trong đó, biện pháp thông tin, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức pháp luật trong cộng đồng là biện pháp rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn. Mục tiêu chung của việc ngăn chặn hình phạt chỉ đạt được kết quả tốt khi người dân hiểu biết về pháp luật, nhận thức được sự cần thiết của việc tuân thủ pháp luật cũng như ý nghĩa xã hội của hình phạt.

Mục tiêu của phòng ngừa cá nhân và phòng ngừa chung là hai khía cạnh của hình phạt. Tuy nhiên, tập trung quá mức vào một khía cạnh hoặc khía cạnh khác có thể dẫn đến vi phạm nguyên tắc pháp luật khi quyết định áp dụng hình phạt và làm mất đi mục tiêu của hình phạt. Nếu quá tập trung vào khía cạnh trừng trị, có thể dẫn đến áp dụng hình phạt quá nặng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người hoặc tổ chức bị kết án, làm mất đi điều kiện thuận lợi để giáo dục họ. Ngược lại, nếu quá tập trung vào khía cạnh giáo dục, có thể dẫn đến áp dụng hình phạt quá nhẹ không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, làm cho hình phạt không có tác động cần thiết để răn đe, ngăn ngừa và giáo dục công dân hoặc tổ chức ‘không vững vàng’ phạm tội. Đồng thời, điều này cũng làm mất lòng tin của người dân vào sự công bằng của pháp luật và uy tín của Nhà nước, không khuyến khích quần chúng tham gia tích cực vào việc phòng ngừa và chống tội phạm.

2. Sự trừng phạt tù theo quy định của luật hình sự.

1. Tù có thời gian là bắt buộc người bị kết án phải tuân thủ hình phạt tại trại giam trong một khoảng thời gian cụ thể.

Tù có thời gian án đối với người phạm một tội có mức ít nhất là 03 tháng và mức nhiều nhất là 20 năm.

Thời gian bắt giữ, giam cầm được tính vào thời gian phải thực hiện án tù, mỗi ngày bắt giữ, giam cầm tương đương với một ngày tù.

2. Không sử dụng án tù có thời hạn đối với người lần đầu vi phạm tội ít nghiêm trọng do không cố ý và có địa chỉ cư trú rõ ràng.

3. Hình phạt tử hình.
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: Hình phạt tử hình là một hình thức trừng phạt mà người phạm tội bị thi hành án tử hình.

1. Án tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng cho những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc vào một trong các nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm liên quan đến ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác được quy định trong Bộ luật này.

Không thực hiện án tử hình đối với cá nhân chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ đang mang thai, phụ nữ đang cho con bú dưới 36 tháng tuổi hoặc cá nhân đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc trong quá trình xét xử.

3. Không thực hiện án tử hình đối với cá nhân bị kết án nếu nằm trong một trong những trường hợp dưới đây:

a) Phụ nữ mang bầu hoặc phụ nữ đang chăm sóc con dưới 3 năm tuổi;

b) Người từ 75 tuổi trở lên;
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: Người từ 75 tuổi trở đi;

c) Kẻ bị kết án tử hình vì tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ đã tự nguyện trả lại ít nhất ba phần tư của số tài sản đã tham ô và số tiền hối lộ, đồng thời hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm hoặc đạt được thành tựu đáng kể.

4. Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được giảm nhẹ, thì hình phạt tử hình được thay đổi thành tù chung thân.

Nếu bạn gặp bất kỳ khó khăn pháp lý nào liên quan đến lĩnh vực tội phạm về trách nhiệm hình sự, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6162.

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Mục đích của hình phạt là gì? Ý nghĩa và ví dụ của hình phạt