Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

Phạm tội quả tang: Thủ tục bắt giữ người vi phạm

Bạn đã bao giờ nghe đến thuật ngữ "phạm tội quả tang" chưa? Đây là một khái niệm pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật của chúng ta. Nhưng bạn có biết nghĩa của nó là gì và quy trình bắt người phạm tội quả tang như thế nào? Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về khái niệm "phạm tội quả tang" và các thủ tục liên quan đến việc bắt giữ những người vi phạm pháp luật này. Hãy cùng khám phá và tìm hiểu thêm về chủ đề thú vị này nhé!

Chia sẻ

1. Tội phạm bị bắt quả tang là gì?

Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2017, tội phạm được hiểu là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có khả năng chịu trách nhiệm hình sự hoặc tổ chức kinh doanh thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, vi phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, vi phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, vi phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, vi phạm các lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Pháp luật hiện hành không có quy định định nghĩa về việc bắt người phạm tội quả tang, tuy nhiên, dựa vào quy định về bắt giữ người phạm tội quả tang theo Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì bắt giữ người phạm tội quả tang được hiểu là đối với người đang thực hiện hành vi phạm tội hoặc ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội và bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, bất kỳ ai cũng có quyền bắt và đưa ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và đưa ngay người bị bắt hoặc thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Theo đó, việc phạm tội bị bắt quả tang có thể hiểu như sau:

– Thực hiện tội phạm trong quá trình bị phát hiện là một tình huống thường gặp trong thực tế. Trong trường hợp này, người đang thực hiện hành vi vi phạm được quy định trong luật hình sự nhưng chưa hoàn thành tội phạm hoặc chưa hoàn tất hành vi phạm tội thì bị phát hiện. Trong trường hợp hành vi đang thực hiện một tội phạm có cấu thành hình thức, dù hậu quả vật chất chưa xảy ra, vẫn được coi là đang thực hiện tội phạm.

– Trong trường hợp các hành vi phạm tội kéo dài trong một khoảng thời gian liên tục, như việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, chất nổ, chất độc, chất cháy, chất phóng xạ…, thì trong suốt thời gian đó, hành vi đó được coi là đang thực hiện tội phạm. Do đó, bất kỳ thời điểm nào tội phạm bị phát hiện cũng được xem là bị bắt quả tang.

– Trong trường hợp bị bắt quả tang này, kẻ phạm tội vừa hoàn thành hành vi phạm tội hoặc đang thực hiện hành vi đó thì bị phát hiện nên đã tẩu thoát và bị truy đuổi.

– Trong trường hợp này, việc truy đuổi phải diễn ra ngay sau khi tình huống chạy trốn xảy ra để đảm bảo xác định đúng người phạm tội và tránh bắt nhầm người không liên quan. Nếu việc truy đuổi bị gián đoạn trong thời gian so với hành vi chạy trốn, không thể bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp.

– Để bắt người phạm tội theo trường hợp quả tang, cần chú ý rằng phải có bằng chứng chứng minh rằng kẻ đó vừa thực hiện hành vi phạm tội, chưa kịp trốn thoát và việc phát hiện, bắt giữ người phạm tội phải xảy ra ngay sau khi tội phạm được thực hiện. Thông thường, các vật chứng (hay còn gọi là tang vật) mà người phạm tội chưa kịp giấu, phân tán là những bằng chứng không thể bị bác bỏ, chứng minh hành vi phạm tội vừa được thực hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp không có vật chứng, sự hiện diện của những người làm chứng cũng cho phép bắt người phạm tội theo trường hợp quả tang này.

2. Các trường hợp được xác định là phạm tội bị bắt gặp.

Theo quy định của luật pháp, có ba trường hợp mà người phạm tội bị bắt quả tang như sau:

Trong trường hợp này, kẻ phạm tội là người đang thực hiện hành vi vi phạm được quy định trong luật hình sự nhưng chưa hoàn thành tội phạm hoặc chưa kết thúc hành vi phạm tội thì bị phát hiện.

Ngoài ra, đối với các hành vi phạm tội được thực hiện liên tục trong một khoảng thời gian dài như việc lưu giữ trái phép vũ khí quân dụng, lưu giữ trái phép chất nổ, … thì trong suốt thời gian đó được coi là đang thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, khi những hành vi phạm tội này bị phát hiện cũng là khi chúng bị phạm tội.

Đây là trường hợp tên tội phạm vừa thực hiện hành vi phạm tội xong chưa kịp tẩu thoát hoặc đang giấu công cụ, phương tiện, đang xóa dấu vết của tội phạm trước khi bỏ trốn thì bị phát hiện.

Đồng thời, để bắt kẻ phạm tội trong trường hợp này, người thực hiện hành vi bắt giữ phải có bằng chứng chứng minh rằng kẻ đó vừa thực hiện tội phạm, chưa kịp trốn thoát và việc phát hiện, bắt giữ tội phạm phải xảy ra ngay sau khi tội phạm thực hiện hành vi.

Trong trường hợp này, việc truy bắt phải diễn ra ngay sau khi tình huống chạy trốn xảy ra để đảm bảo xác định đúng người phạm tội và tránh bắt nhầm người không liên quan. Nếu việc truy bắt bị gián đoạn về thời gian so với hành vi chạy trốn, không thể bắt quả tang mà chỉ có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp.

3. Quy trình bắt giữ tội phạm bị phát hiện
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: 3. Thủ tục bắt giữ kẻ phạm tội bị phát hiện

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện tại, quy trình bắt giữ tội phạm bị phát hiện ngay lập tức như sau:

– Bước 01: Thực hiện việc giữ lại, tạm giữ các loại vũ khí, vật liệu nguy hiểm và bảo quản các tài liệu, đồ vật có liên quan.

– Bước 02: Tạo biên bản bắt giữ cá nhân, thu thập lời khai ban đầu, bảo vệ vị trí hiện trường theo quy định của luật pháp.

Biên bản phải ghi chi tiết thời gian, ngày tháng năm, địa điểm nơi giữ, bắt, và nơi lập biên bản; các hoạt động đã thực hiện, tình hình diễn biến trong quá trình thực hiện lệnh giữ, lệnh hoặc quyết định bắt, tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, trạng thái sức khỏe và ý kiến, khiếu nại của người bị giữ, người bị bắt và các nội dung được quy định tại Điều 133 của Luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Biên bản được đọc cho cá nhân bị giam giữ, cá nhân bị bắt và những người chứng kiến nghe. Cá nhân bị giam giữ, cá nhân bị bắt, những người thực hiện lệnh giam giữ, lệnh hoặc quyết định bắt và những người chứng kiến cùng ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên.

– Bước 03: Giải ngay cá nhân bị bắt hoặc thông báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

– Sau khi bắt phải giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân tại địa phương gần nhất.

– Đơn vị tiếp nhận phải tạo biên bản tiếp nhận và giải ngay cá nhân bị bắt hoặc thông báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Quý khách có thể tìm hiểu thêm về

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Phạm tội quả tang: Thủ tục bắt giữ người vi phạm