Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

Quan hệ sở hữu: Ý nghĩa và vai trò quan trọng

#ERROR!

Chia sẻ

Tất cả các quan hệ sở hữu trong xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chế độ sở hữu – cơ sở của mỗi hình thức sản xuất. Mỗi chế độ sở hữu có thể có nhiều hình thức sở hữu khác nhau, mỗi hình thức sở hữu có vai trò, vị trí khác nhau phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ xã hội.

1. Ai là người sở hữu quan hệ?

Người sở hữu là những cá nhân tham gia vào quan hệ pháp lý dân sự liên quan đến quyền sở hữu.

Đối với các tài sản vật chất, người sở hữu là những người nắm giữ các tài sản theo quy định tại Chương VII, Phần thứ nhất của Bộ luật Dân sự (BLDS) và được xác định dựa trên các căn cứ mà BLDS quy định. Chủ sở hữu trong lĩnh vực pháp luật dân sự có thể là cá nhân hoặc tổ chức theo quy định tại Điều 158: ‘có đủ ba quyền là quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền quyết định về tài sản’.

Để trở thành chủ sở hữu, trong một số trường hợp pháp luật dân sự quy định cần đáp ứng những điều kiện cụ thể. Đối với cá nhân, để trở thành chủ sở hữu cần có khả năng pháp luật và trong một số trường hợp cần có khả năng hành vi.

Ngoài ra, còn có những tài sản BLDS quy định chỉ thuộc quyền sở hữu của các chủ thể riêng biệt như: Tài sản thuộc sở hữu của toàn bộ dân cư bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất…(Điều 197 BLDS).

Đối với các tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ), người sở hữu được công nhận theo luật dân sự là những cá nhân hoặc tổ chức được pháp luật công nhận. Đây là những người sở hữu tác phẩm bao gồm: tác giả, các tác giả đồng tác, cơ quan tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả, cá nhân hoặc tổ chức ký kết hợp đồng sáng tạo với tác giả, người thừa kế theo di chúc hoặc người thừa kế theo quy định của pháp luật về tác giả…. Trong quyền sở hữu công nghiệp, người sở hữu có thể được xác định bằng văn bằng bảo hộ. Người được ghi tên trong văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp được coi là người sở hữu và có quyền sở hữu đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá v.v. được xác định theo văn bằng bảo hộ.

Vì tính chất và đặc điểm của quan hệ pháp luật về sở hữu, một bên luôn được xác định và có quyền chiếm hữu, sử dụng và quyết định về tài sản của mình, trong khi bên kia là tất cả các thành viên trong xã hội. Mặc dù các thành viên này chưa được xác định cụ thể, nhưng họ có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền của chủ sở hữu. Nghĩa vụ này được thể hiện bằng việc không xâm phạm các quyền của chủ sở hữu thông qua hành động hoặc không hành động. Ví dụ: không được can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu. Người thuê tài sản không được sử dụng tài sản không đúng mục đích hoặc công dụng của nó. Nếu bên thuê tài sản vi phạm, bên cho thuê có thể chấm dứt hợp đồng một cách đơn phương và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 2 Điều 480 Bộ luật Dân sự.

Hơn nữa, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu, pháp luật cũng quy định rằng các thành viên trong cộng đồng không được thực hiện những hành vi khác gây trở ngại cho việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người sở hữu.

2. Đối tượng của mối quan hệ sở hữu là gì?

Người sử dụng là một trong ba thành phần tạo nên quan hệ pháp lý dân sự về quyền sở hữu. Họ có thể là vật chất hoặc kết quả của các hoạt động sáng tạo tinh thần (trí tuệ).

Tài sản – trong vai trò là khách thể của quan hệ sở hữu – được định nghĩa theo Điều 105 BLDS như sau: ‘Tài sản là các đồ vật, tiền bạc, giấy tờ có giá trị và quyền sở hữu tài sản”. Tài sản có thể được phân loại thành Bất động sản và động sản, đây là hai tiêu chí để phân loại tài sản trong quyền sở hữu.

Do đó, đối tượng của mối quan hệ sở hữu thường là các tài sản, các đồ vật có giá trị.

Ví dụ: 1 Kilogram vàng; 1 triệu đồng; 1 Căn hộ chung cư….

3. Điều kiện để trở thành người sở hữu
Để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu, có những điều kiện cần phải đáp ứng.

Để trở thành chủ sở hữu, trong một số trường hợp pháp luật dân sự quy định cần đáp ứng những điều kiện cụ thể. Đối với cá nhân, để trở thành chủ sở hữu cần có khả năng pháp luật dân sự và trong một số trường hợp cần có khả năng hành vi dân sự.

Tuy nhiên, có những tài sản BLDS quy định chỉ thuộc quyền sở hữu của những chủ thể riêng biệt như: Điều 197 BLDS quy định: Tài sản thuộc sở hữu toàn dân bao gồm Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác Ví dụ: Không được xâm phạm trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu. Người thuê nhà không được tự ý sửa chữa hoặc làm thay đổi kiến trúc nhà khi chủ sở hữu chưa đồng ý. Nếu bên thuê nhà vi phạm có thể bị bên cho thuê nhà đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 2 Điều 480 BLDS.

Vì tính chất và đặc điểm của quan hệ sở hữu, một bên luôn được xác định là chủ thể và có quyền chiếm hữu, sử dụng và quyết định về tài sản của mình, trong khi bên kia là tất cả các thành viên trong xã hội. Mặc dù các thành viên này chưa được xác định cụ thể, nhưng họ có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền của chủ sở hữu. Nghĩa vụ này được thể hiện bằng việc không xâm phạm quyền của chủ sở hữu thông qua hành động hoặc không hành động.

Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, pháp luật còn quy định các thành viên trong xã hội không được thực hiện những hành vi khác làm trở ngại việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của chủ sở hữu.

4. Quyền sở hữu là gì?
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: Quyền sở hữu có ý nghĩa gì?

5. Các đặc quyền của quyền sở hữu

5.1 Quyền sở hữu
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: 5.1 Quyền sở hữu

Luật dân sự Việt Nam xác định chiếm đoạt là một quyền hành của quyền sở hữu cụ thể, Điều 182 BLDS quy định quyền chiếm đoạt là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. Nắm giữ tài sản là việc người chiếm đoạt giữ vật trong phạm vi kiểm soát làm chủ và điều khiển tài sản đó theo ý chí của mình, ví dụ, đặt tiền vào túi, quần áo, trang sức để vào trong tủ.

Trong việc sở hữu theo quy định của pháp luật Việt Nam, khi xem xét từ góc độ người sở hữu, có thể có hai khả năng sau đây tồn tại:

Người sở hữu tài sản cũng là người chiếm hữu tài sản và người chiếm hữu không phải là người sở hữu tài sản.

Xét theo việc sở hữu có cơ sở hoặc không có cơ sở, ta có thể phân loại sở hữu thành sở hữu có cơ sở pháp lý và sở hữu không có cơ sở pháp lý.

Các dạng sở hữu

· Sở hữu có cơ sở pháp lý

Chiếm đoạt có căn cứ pháp luật được hiểu là các trường hợp người chiếm đoạt thực sự có quyền chiếm đoạt đối với tài sản của mình dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định. Đó là hình thức chiếm đoạt hợp pháp, theo Điều 183, sự chiếm đoạt hợp pháp trước hết đó là sự chiếm đoạt tài sản của một chủ sở hữu được pháp luật công nhận.

Người không phải là chủ sở hữu nhưng sở hữu tài sản sẽ được coi là hợp pháp trong các trường hợp sau: người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản, người được nhận quyền sở hữu thông qua giao dịch dân sự; người phát hiện và giữ tài sản không có chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm; người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc, chiếm hữu của cơ quan, tổ chức theo chức năng và thẩm quyền có quyền thu giữ và sở hữu tài sản…

Đối với các trường hợp người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản hoặc được nhận tài sản thông qua giao dịch dân sự, người chiếm hữu không thể thiết lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 185,186).

Người lấy cắp tài sản của người khác chỉ được thực hiện quyền chiếm hữu theo phạm vi, cách thức và thời hạn do chủ sở hữu quyết định. Nói cách khác, người không phải là chủ sở hữu chỉ có thể thực hiện các quyền hạn chủ yếu không độc lập.

Trong trường hợp quyền sở hữu bị vi phạm, người chiếm hữu tài sản của người khác nhưng có căn cứ pháp luật được pháp luật bảo vệ theo các quy định về bảo vệ quyền sở hữu (từ Điều 255 đến Điều 260 BLDS). Tất nhiên, người này phải chứng minh được tính hợp pháp của việc chiếm hữu, ví dụ như bằng cách trình diện hợp đồng thuê tài sản.

· Chiếm đoạt không có cơ sở pháp lý

Người chiếm đoạt trong trạng thái chiếm đoạt không dựa vào các trường hợp được liệt kê tại Điều 190 BLDS đều bị coi là chiếm đoạt không có cơ sở pháp lý. Thực tế, chiếm đoạt không có cơ sở pháp lý là khi một người thực hiện quyền chiếm đoạt của chủ sở hữu đối với một tài sản, tức là hành động như là chủ sở hữu trong khi thực tế chủ sở hữu thực sự của tài sản lại là người khác. Có hai trường hợp xảy ra: chiếm đoạt không có cơ sở pháp lý nhưng ngay thẳng, chiếm đoạt không có cơ sở pháp lý và không ngay thẳng.

Người thực hiện việc chiếm đoạt không có cơ sở pháp lý và không được xem là hợp pháp, không được bảo vệ bởi pháp luật và không được áp dụng quy chế thiết lập quyền sở hữu theo thời gian.

Ngược lại, người thực hiện việc chiếm đoạt tài sản mà không có cơ sở pháp lý, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, họ vẫn được bảo vệ bởi pháp luật và có quyền sở hữu tài sản dựa trên thời gian sử dụng.

5.2 Quyền sử dụng
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: 5.2 Quyền tiếp cận và sử dụng

Quyền sử dụng theo Điều 192 BLDS được xác định là quyền tận dụng, tận hưởng và thu lợi từ tài sản. Tận dụng tài sản có nghĩa là sử dụng tài sản để đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc khai thác lợi ích kinh tế của tài sản. Ví dụ, sử dụng xe máy để di chuyển, đeo trang sức hoặc đồng hồ để làm đẹp… Tận hưởng và thu lợi từ tài sản là việc chủ sở hữu thu nhận các sản phẩm tự nhiên mà tài sản mang lại, như trái cây, gia súc sinh con, gia cầm đẻ trứng… hoặc thu lợi từ việc khai thác tài sản, như tiền thuê nhà, lợi tức cổ phiếu, lợi tức từ việc cho vay… Việc sử dụng các tài sản là việc tiêu hao, đặc biệt là các tài sản tiêu hao hoàn toàn sau một lần sử dụng, như sử dụng thức ăn, đồ uống, tiêu tiền… cũng đồng nghĩa với việc chủ sở hữu có quyền quyết định về tài sản.

Do đó, tận dụng tài sản là một trong những quyền hạn quan trọng và có ý nghĩa thực tế của người sở hữu. Người sở hữu hoàn toàn có quyền tận dụng, hưởng lợi, và thu được lợi nhuận từ tài sản theo ý muốn của mình: sử dụng hoặc không sử dụng tài sản, khai thác trực tiếp các tiện ích tự nhiên của tài sản hoặc cho phép người khác sử dụng thông qua các giao dịch dân sự như hợp đồng cho thuê, cho mượn. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, việc tận dụng tài sản phải tuân thủ nguyên tắc không ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, và quyền lợi hợp pháp của người khác. Thông thường, người sở hữu là người có quyền tận dụng tài sản nhưng pháp luật cũng công nhận ba trường hợp người không phải là người sở hữu cũng có quyền tận dụng tài sản.

Trong trường hợp đầu tiên, quyền sử dụng tài sản được chuyển giao từ chủ sở hữu cho người khác thông qua một hợp đồng. Trong trường hợp này, người sử dụng có quyền khai thác tài sản theo cách thức và thời hạn đã được thỏa thuận với chủ sở hữu.

Trong trường hợp thứ hai, khi người nắm giữ tài sản mà không có cơ sở pháp lý, họ vẫn có quyền tận dụng, thu được lợi ích và lợi tức từ tài sản đó. Do đó, người này chỉ cần trả lại lợi ích và lợi tức đã thu được từ thời điểm họ biết hoặc nên biết rằng việc chiếm hữu tài sản không có cơ sở pháp lý (theo khoản 2 của Điều 194 trong Bộ luật Dân sự).

Trường hợp thứ ba, một tổ chức hoặc cơ quan bất kỳ cũng có quyền sử dụng tài sản của người khác dựa trên một văn bản của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc sử dụng tài sản trong tình huống cấp bách phù hợp với quy định của pháp luật.

5.3 Quyền quyết định

Quyền định đoạt theo Điều 195 BLDS là quyền chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản. Việc định đoạt tài sản có thể quyết định số phận thực tế của các vật, kết thúc sự tồn tại vật chất của tài sản, như huỷ bỏ, tiêu dùng hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật, hoặc thông qua các hành vi pháp lý (bán, trao đổi, tặng, cho vay, để thừa kế, góp vốn vào công ty…). Người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền định đoạt tài sản của người khác trong trường hợp được chủ sở hữu ủy quyền hoặc trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định (việc mua lại, thu hồi tài sản theo quyết định của Nhà nước). Việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ kết thúc hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản đó.

Về nguyên tắc, chủ sở hữu có quyền tuyệt đối trong việc quyết định vận mệnh thực tế và pháp lý của tài sản của mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhằm đảm bảo sự cân đối giữa lợi ích của chủ sở hữu và lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của người khác, quyền quyết định có thể bị hạn chế theo những điều kiện cụ thể do pháp luật quy định. Điều này được thể hiện trong một số trường hợp sau đây:

Khi tài sản được bán là cổ vật, là di tích lịch sử, văn hoá thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua;

Trong trường hợp tổ chức, cá nhân có quyền ưu tiên mua một tài sản theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải đặt quyền ưu tiên mua cho các tổ chức, cá nhân đó. Ví dụ, thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài nếu các thành viên khác của công ty không mua hoặc mua không đủ((Điều 43 Luật Doanh nghiệp);

Khi bán nhà đang cho thuê, bên thuê được đặc quyền mua trước theo quy định của Điều 94 Luật nhà ở năm 2005.

Trong trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục xác định tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó. Điều 450 Bộ luật Dân sự quy định hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Vì vậy, nếu A bán nhà cho B nhưng hợp đồng không được công chứng thì hợp đồng này có nguy cơ bị coi là không có hiệu lực (Điều 122, 124 và 127 Bộ luật Dân sự).

Có những trường hợp mặc dù không phải là chủ sở hữu và không được chủ sở hữu uỷ quyền, nhưng theo quy định của pháp luật, những người có thẩm quyền vẫn có quyền quyết định về tài sản. (Trung tâm đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật; cửa hàng cầm đồ có quyền bán tài sản nếu hết thời hạn đã thỏa thuận mà người vay không trả được tiền vay…).

Trong bài viết này, tác giả muốn thảo luận thêm về một số vấn đề liên quan đến bài viết này, nhằm thu thập ý kiến của các đồng nghiệp và quý vị. Cụ thể là:

– Người không có căn cứ pháp luật để sở hữu tài sản có thể được xem là người chiếm đoạt hợp pháp hoặc trái pháp luật? Hoặc chỉ đơn giản là người chiếm đoạt không có căn cứ pháp luật? Từ đó, có thể xác định tư cách chủ thể để áp dụng biện pháp bảo vệ quyền sở hữu.

– Có nên đảm bảo quyền lợi của bên thứ ba trong trường hợp giao dịch dân sự không có hiệu lực?

– Trường hợp người sở hữu tài sản ban đầu có cơ sở pháp lý nhưng sau đó lại rơi vào tình trạng sở hữu không có cơ sở pháp lý nhưng ngay tình. Ví dụ, người thuê nhà của người không phải là chủ sở hữu, sau đó bị chủ sở hữu kiện đòi nhà, thuê nhà của người được chia thừa kế của người bị Tòa án tuyên bố chết, sau đó người này quay trở lại… Trong các trường hợp này, có được xem xét ‘quyền của người thuê nhà khi nhà cho thuê thay đổi chủ sở hữu theo quy định tại Điều 104 Luật nhà ở năm 2005 không?

– Điều 194 và Điều 190 trong văn bản đang có sự xung đột về việc quy định về tính liên tục của quyền sở hữu.

– Có câu trả lời cho trường hợp “Người sở hữu hợp pháp có quyền yêu cầu trả lại tài sản theo Điều 257, 258 không?

– Điều 257 sử dụng thuật ngữ ‘hợp đồng có bồi thường’ không đủ rộng rãi để bao quát tất cả các trường hợp tài sản được chuyển giao trong các giao dịch dân sự. Điều này bởi vì việc chuyển giao này không chỉ thông qua hợp đồng dân sự mà còn có các phương thức khác.

Nếu bạn gặp bất kỳ rắc rối pháp lý nào liên quan đến luật dân sự về quyền sở hữu hoặc các vấn đề khác, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6162.

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Quan hệ sở hữu: Ý nghĩa và vai trò quan trọng