Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

  • Home
  • Kiến thức
  • Quy trình xây dựng pháp luật được thực hiện như thế nào? Hoạt động quy trình xây dựng pháp luật

Quy trình xây dựng pháp luật được thực hiện như thế nào? Hoạt động quy trình xây dựng pháp luật

Pháp luật là một hệ thống quy tắc và nguyên tắc được thiết lập để điều chỉnh hành vi của các cá nhân và tổ chức trong xã hội. Tuy nhiên, ít ai biết rõ về quy trình xây dựng pháp luật - quá trình mà các quy định và luật lệ được hình thành và áp dụng. Vậy, hoạt động quy trình xây dựng pháp luật là gì? Để hiểu rõ hơn về quá trình này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về các bước và quy trình quan trọng trong việc xây dựng pháp luật.

Chia sẻ

1. Ý nghĩa xây dựng luật pháp

Bước đầu của quy trình xây dựng pháp luật bắt đầu bằng việc lập bản đề nghị sáng kiến pháp luật, thể hiện các lập luận về việc hình thành ý chí của nhà nước. Tiếp theo, văn bản quy phạm pháp luật được tạo thành dưới dạng một dự án, chứa đựng nội dung về việc hình thành ý chí của nhà nước. Sau đó, dự án này tiếp tục được hoàn thiện ý chí của nhà nước thông qua các quy trình thẩm tra, thu thập ý kiến góp ý và chỉnh sửa lại văn bản theo các phần, chương và điều. Cuối cùng, dự án văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng các điều kiện chính để được trình lên cơ quan có thẩm quyền để quyết định. Dự án này trở thành văn bản quy phạm pháp luật và được chính thức tích hợp vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các giai đoạn thảo luận, thông qua và công bố văn bản.

Quá trình xây dựng pháp luật cũng phải bao gồm việc theo dõi tác động thực tế của văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành để có thể đánh giá và điều chỉnh kịp thời theo yêu cầu điều chỉnh. Sau một thời gian thực hiện, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể tổng kết việc triển khai, hiệu quả và hiệu lực thực tế của văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra các vấn đề sửa đổi, bổ sung. Đây cũng là thời điểm có thể coi là bắt đầu quá trình xây dựng pháp luật mới.

Vì vậy, xây dựng luật pháp không chỉ là quá trình ngừng lại mà là quá trình diễn ra liên tục cùng với quá trình diễn ra, thay đổi, phát triển của chính phủ và cộng đồng.

2. Công việc xây dựng quy định pháp luật là gì?

Hoạt động xây dựng pháp luật là lĩnh vực hoạt động cốt lõi, quan trọng của nhà nước nên nó là lĩnh vực thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà luật học và các nhà xã hội học pháp luật, trở thành đối tượng nghiên cứu của cả luật học và xã hội học pháp luật. Không phải ngẫu nhiên mà trong các tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của S.L. Montesquieu và “Bàn về khế ước xã hội” của J.J. Rousseau – những tác phẩm được coi là đặt nền móng cho cách tiếp cận xã hội học trong nghiên cứu về pháp luật – các tác giả đều dành phần thích đáng để bàn về vẩn đề lập pháp. Nếu như luật học hướng sự quan tâm của nó vào việc nghiên cứu hình thức, trình tự, thủ tục, kỹ năng xây dựng pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, tiêu chuẩn, yêu cầu xây dựng để có một văn bản pháp luật tốt…; thì xã hội học pháp luật chú trọng nghiên cứu, khảo sát các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng pháp luật nhằm tạo cơ sở thực tế cho hoạt động lập pháp. Miền giao thoa gi

Tổ chức hội thảo, hội nghị, thu thập ý kiến đóng góp vào bản dự thảo của luật; theo dõi thực tế áp dụng luật trong cuộc sống để cải tiến và hoàn thiện cả về nội dung lẫn hình thức diễn đạt, trình bày. Do đó, công việc hệ thống hóa pháp luật (tổng hợp, biên soạn) cũng thuộc phạm vi của khái niệm này.

Do đó, việc tạo ra các quy định pháp luật còn được gọi là việc sáng tạo ra các quy định pháp luật.

3. Người thực hiện hoạt động xây dựng pháp luật

Trong nước ta hiện nay, việc xây dựng pháp luật được thực hiện theo cách vừa phân chia theo tầng lớp, vừa mở rộng theo cách dân chủ, và cũng là một hoạt động chuyên nghiệp. Việc xây dựng pháp luật được thực hiện dựa trên kế hoạch (ngắn hạn và dài hạn) được đặt ra bởi các cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, hoạt động này cũng được điều chỉnh bằng các quy định của pháp luật. Một số quốc gia còn quy định việc tổ chức cuộc trưng cầu dân ý để thông qua những văn bản pháp luật quan trọng như hiến pháp và các bộ luật. Trong nước ta, việc xây dựng pháp luật có nhiệm vụ đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, nhất quán và kịp thời các nguyên tắc và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên tắc và chủ trương của Đảng không chỉ chỉ đạo việc xây dựng pháp luật mà còn là nội dung của hoạt động này. Các cơ quan của Đảng cũng tích cực tham gia vào việc xây dựng pháp luật theo cả hai ý nghĩa trên.

4. Quy trình xây dựng tài liệu quy phạm pháp luật

4.1 Tạo ra một đề xuất để tạo ra một tài liệu quy phạm pháp luật

Đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được xác định là quy trình đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là giai đoạn cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, nhằm xác định nhu cầu, tìm ra các chính sách, quy định pháp luật phù hợp để giải quyết các vấn đề của xã hội và quản lý nhà nước. Vì vậy, đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải rất chi tiết, cụ thể, rõ ràng với những luận cứ khoa học và thực tế, có tính thuyết phục cao.

Đề xuất xây dựng tài liệu quy định pháp luật phải đáp ứng những điều kiện sau:

– Văn bản đề xuất ban hành phải đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước, giải quyết các vấn đề xã hội và các vấn đề đó cần phải điều chỉnh bằng văn bản quy phạm pháp luật.

– Việc phát động tài liệu nhằm đảm bảo thực hiện các quyền và trách nhiệm cơ bản của người dân.

– Đề xuất ban hành văn bản phải được đánh giá tác động đến các chính sách cốt lõi và nội dung chủ yếu của văn bản.

– Văn bản đề xuất phải đảm bảo phù hợp với hướng đi, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước.

– Văn bản đề nghị ban hành phải tuân thủ nội dung cam kết trong các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc có ý định tham gia;

– Các điều kiện đảm bảo thực hiện văn bản phải được xác định rõ ràng.

– Việc ra mắt tài liệu phải đảm bảo khả năng thực hiện.

4.2 Các tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền đề xuất việc tạo ra văn bản quy phạm pháp luật.

Xây dựng luật pháp là một hoạt động kết hợp giữa yếu tố chính trị và sáng tạo, có ý nghĩa quan trọng và cần sự tham gia rộng rãi của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong xã hội. Do đó, quyền đề xuất ý kiến xây dựng văn bản pháp luật được mở rộng đến các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm khai thác trí tuệ của toàn bộ xã hội trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

– Chính quyền, hội đồng nhân dân

Tương tự như các quốc gia khác trên thế giới, ở nước ta, Chính phủ (đặc biệt là các bộ, cơ quan ngang bộ), ủy ban nhân dân (bao gồm các sở, phòng, ban) đóng vai trò chủ yếu trong việc đưa ra đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Điều này bắt nguồn từ nhiều lý do nhưng hai lý do quan trọng nhất là:

1) Các tổ chức, đơn vị ngang bộ, tại địa phương là các sở, phòng, ban có trách nhiệm thực hiện pháp luật, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực, do đó, chúng là những cơ quan hiểu rõ nhất về những vấn đề không hoàn thiện trong xã hội liên quan đến ngành, lĩnh vực mà chúng phụ trách. Vì vậy, những cơ quan này có đủ cơ sở để xác định những mối quan hệ xã hội nào cần được điều chỉnh bằng pháp luật và điều chỉnh như thế nào là phù hợp.

2) Các cơ quan, tổ chức ngang bộ, sở, phòng, ban đều có đủ cơ cấu để thực hiện. Theo quy định tại Điều 32 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Chính phủ có trách nhiệm đề xuất về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh về các vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Đề xuất của Chính phủ về xây dựng luật, pháp lệnh được Bộ Tư pháp hỗ trợ Chính phủ thực hiện dựa trên đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh của các cơ quan, tổ chức ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Ngoài việc đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh gửi cho cơ quan có thẩm quyền tổng hợp, Chính phủ cũng tạo ra Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để trình Quốc hội thông qua. Ngoài ra, Chính phủ cũng lập Chương trình xây dựng nghị định. Chương trình xây dựng nghị định được thực hiện bởi Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan dựa trên đề xuất của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Thường thì, các tổ chức, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý để điều chỉnh về các vấn đề liên quan đến việc quản lý ngành, lĩnh vực.

Tương tự như vậy, tại địa phương, Ủy ban nhân dân không chỉ đề xuất việc xây dựng nghị quyết cho Hội đồng nhân dân mà còn thực hiện việc lập kế hoạch để đưa ra quyết định. Kế hoạch xây dựng quyết định được thực hiện bởi Văn phòng Ủy ban nhân dân phối hợp với Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và các cơ quan liên quan.

– Các cơ quan, tổ chức, đại diện Quốc hội

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Hiến pháp năm 2013 (Điều 84), các cơ quan, tổ chức, đại biểu có quyền trình dự án luật; gửi đề xuất về luật, pháp lệnh đến ủy ban Thường vụ Quốc hội. Các chủ thể này bao gồm: Tổng thống, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu Quốc hội.

– Các tổ chức, đơn vị, cá nhân khác

Tất cả các tổ chức, cá nhân, và cơ quan trong quá trình hoạt động của mình, nếu phát hiện những vấn đề không phù hợp giữa các tài liệu pháp luật và thực tế cuộc sống hoặc phát hiện những vấn đề xung đột, mâu thuẫn giữa các tài liệu pháp luật, đều có quyền đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các tài liệu mới đến các cơ quan có liên quan khi nhận thấy rằng trên thực tế có những vấn đề chưa được tài liệu pháp luật điều chỉnh.

Các tổ chức, cơ quan và cá nhân có quyền gửi đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định đến các cơ quan quản lý hoặc phụ trách ngành, lĩnh vực thông qua văn bản hoặc qua cổng thông tin điện tử của các cơ quan này. Trong trường hợp không biết địa chỉ cụ thể để gửi đề xuất, tổ chức, cơ quan và cá nhân có thể gửi đề xuất đến Bộ Tư pháp (đối với đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh); sở tư pháp (đối với nghị quyết của hội đồng nhân dân) hoặc Văn phòng Chính phủ (đối với đề xuất xây dựng nghị định); văn phòng ủy ban nhân dân (nếu là quyết định). Những cơ quan này có trách nhiệm chuyển đề xuất của tổ chức, cơ quan và cá nhân đến các cơ quan quản lý, sở, phòng, ban có liên quan.

4.3 Nền tảng của đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thường được các chủ thể tiến hành dựa trên những lý do sau đây để chứng minh sự cần thiết ban hành văn bản đó:

Dựa trên các nguyên tắc, hướng dẫn, chính sách của Đảng; chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, phát triển ngành, lĩnh vực. Đây là cơ sở quan trọng để định hướng cho công tác lập pháp. Các cơ quan cần nghiên cứu cụ thể nội dung các tài liệu của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, phát triển ngành, lĩnh vực để xác định những văn bản quy phạm pháp luật cần ban hành hoặc chỉnh sửa, bổ sung.

Ví dụ: Thuyết minh về sự cần thiết ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân (qua năm 2007), cơ quan dự kiến xây dựng Luật có nêu: “Quyết định Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp dụng thuế thu nhập cá nhăn thống nhất và thuận lợi cho tất cả các đối tượng chịu thuế, đảm bảo công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lệ thu nhập ”. Cụ thể hóa quyết định Đại hội Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đó đặt ra yêu cầu: “Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các nguồn thu trong nước cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu ”.(I)

Dựa vào tình hình hiện tại của kinh tế – xã hội, cần phân tích việc cần thiết xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh quan hệ xã hội mới phát sinh. Dựa trên việc điều tra và khảo sát thực tế, cơ quan đề nghị xây dựng văn bản phải chứng minh nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ xã hội mới xuất hiện. Dự kiến xây dựng luật phải tuân thủ nguyên tắc pháp luật phải phù hợp với cuộc sống và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

Tuy nhiên, pháp luật không phải là công cụ duy nhất mà chỉ là một trong số các công cụ để điều chỉnh xã hội. Vì vậy, nếu kết quả phân tích thực trạng quan hệ kinh tế – xã hội cho thấy những hạn chế mà thực tế đặt ra có thể được xã hội tự điều chỉnh bằng những công cụ khác (đạo đức, tôn giáo, tập quán…) có hiệu quả hơn pháp luật, thì không cần thiết phải sử dụng pháp luật để can thiệp vào tình trạng đó. Chỉ khi pháp luật là công cụ điều chỉnh hiệu quả, ưu thế hơn các quy định xã hội khác thì cơ quan, tổ chức mới đề xuất xây dựng văn bản quy định pháp luật.

Dựa vào kết quả tổng kết, đánh giá tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật hiện tại, ta nhận thấy nhu cầu cần chỉnh sửa, bổ sung văn bản hiện hành hoặc nâng cao giá trị pháp lý của chúng để đáp ứng yêu cầu thực tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Do đó, cơ quan, tổ chức sẽ đề xuất ban hành văn bản quy phạm pháp luật để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế. Ngoài ra, khi có luật, pháp lệnh mới được ban hành, chúng sẽ là cơ sở để tiếp tục ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh. Điều này cũng là một trong những cơ sở pháp lý để tạo ra các ý tưởng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Khi đề xuất thay đổi, bổ sung văn bản pháp luật hiện hành, cơ quan đề xuất cần có cái nhìn tổng quan về mức độ thay đổi, bổ sung để xác định hình thức văn bản phù hợp. Nếu các nội dung dự kiến thay đổi, bổ sung không quá nhiều (khoảng dưới 20% dung lượng văn bản hiện hành), thì hình thức văn bản đề xuất nên là văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản hiện hành. Trong trường hợp các nội dung thay đổi, bổ sung dự kiến chiếm khoảng trên 20% tổng số dung lượng văn bản hiện hành, thì hình thức văn bản đề xuất nên là văn bản mới thay thế. Tuy nhiên, tỉ lệ nêu trên chỉ là một khuyến nghị mà các cơ quan chủ trì xây dựng văn bản có thể tham khảo, không phải là quy định bắt buộc.

Trước khi đưa ra đề xuất xây dựng văn bản, bất kể đó là văn bản chỉnh sửa, bổ sung một số điều hoặc văn bản thay thế, cơ quan đề nghị cần tiến hành nghiên cứu thực tế kỹ lưỡng, xác định một cách chính xác và cụ thể các nguyên nhân gây ra những vấn đề không tốt.

Sau khi đã xác định đúng các hạn chế, vấn đề, các giải pháp dự kiến để giải quyết vấn đề cần được đánh giá tác động toàn diện về mặt kinh tế, xã hội để việc chỉnh sửa, bổ sung được thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ, tránh tình trạng chỉnh sửa, bổ sung mang tính tạm thời, cục bộ, không chặt chẽ và do đó dẫn đến xung đột.

Trong trường hợp dự kiến thay đổi, bổ sung về nội dung của văn bản kèm theo việc sửa đổi về hình thức pháp lý của văn bản (ví dụ như nâng văn bản hiện hành từ hình thức pháp lệnh lên thành luật), cơ quan đề nghị xây dựng văn bản cần giải thích rõ lý do vì sao cần có sự thay đổi về hình thức như vậy, đưa ra được những lý lẽ để chứng minh rằng, hình thức pháp lý của văn bản hiện hành chính là một trong những nguyên nhân gây ra bất cập của thực tiễn và sự thay đổi về mặt nội dung của văn bản tất yếu đòi hỏi một sự thay đổi về mặt hình thức.

Ngoài ra, khi đề xuất viết văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan đề xuất cũng dựa vào kết quả kiểm tra, đánh giá tác động của các hiệp định quốc tế và yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực.

Tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế đã trở thành một xu hướng không thể tránh được, có tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế nói chung và đối với mỗi quốc gia, bao gồm cả Việt Nam. Việc tham gia của Việt Nam cùng với cộng đồng quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả được thể hiện qua việc Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng; ký kết các hiệp định quốc tế trên nhiều lĩnh vực, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Khi đã ký kết và gia nhập hiệp định quốc tế, Việt Nam cũng như các quốc gia thành viên khác phải tuân thủ nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế. Nghĩa vụ quốc gia phải được thực hiện, tuy nhiên cách thực hiện có thể trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc kết hợp cả hai phương thức, tùy thuộc vào đặc thù của từng quốc gia. Ở Việt Nam, có những hiệp định quốc tế được áp dụng trực tiếp, nhưng phần lớn các hiệp định quốc tế được chuyển đổi thành pháp luật quốc gia thông qua quy trình lập pháp. Do đó, yêu cầu nội luật hoá hiệp định quốc tế c

Với các cơ sở đã được nêu trên, các tổ chức và cá nhân, cũng như các đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân, có thể đề xuất và giải thích về việc cần thiết ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.

4.4 Nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tạo ra đề xuất để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Trước khi đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

– Tổng kết việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá, khảo sát tình hình hiện tại của các mối quan hệ xã hội liên quan đến đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

– Tổ chức tiến hành nghiên cứu khoa học về các vấn đề liên quan để hỗ trợ cho quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; thực hiện việc tìm hiểu thông tin, tư liệu, các hiệp định quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Khi cần thiết, yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

– Xây dựng nội dung của chính sách trong đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá tác động của chính sách. Đây là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình lập đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bởi thông qua việc phân tích và đánh giá tác động của chính sách, cơ quan, tổ chức và đại biểu Quốc hội có cơ sở để lựa chọn phương án tốt nhất giải quyết vấn đề bất cập trong quản lý nhà nước. Với ý nghĩa chung nhất, đánh giá tác động pháp luật (RIA – Regulatory Impact Assessment) là một công cụ nâng cao chất lượng chính sách, nhằm giúp cải thiện môi trường thể chế thông qua một quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật dựa trên bằng chứng. RIA là quy trình gồm các bước cụ thể, trong đó bao gồm cả quá trình tham vấn công chúng. Kết quả của quá trình này là một báo cáo RIA trình bày chi tiết các bằng chứng để chứng minh tính cần thiết của việc ban hành văn bản và cơ sở lựa chọn phương án chính sách tốt nhất. RIA tập hợp và trình bày các chứng cứ để xác định việc lựa chọn chính sách có thể được ban hành và các ưu, nhược điểm của

Báo cáo phải trình bày rõ ràng về tác động của từng chính sách trong đề xuất viết văn bản quy phạm pháp luật.

Vấn đề cần giải quyết;
Đầu vào: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Đầu ra:

+ Mục đích của chính sách;

+ Phương án để thực hiện chính sách;

+ Ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của chính sách;

+ Kinh phí, ưu điểm của các biện pháp.

+ So sánh phí tổn, lợi ích của các giải pháp;

+ Chọn lựa phương án của cơ quan, tổ chức và lý do của việc chọn;
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: Lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và nguyên nhân của việc lựa chọn;

+ Đánh giá tác động thủ tục hành chính; tác động về giới (nếu có).
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: Đánh giá tác động của quy trình hành chính; tác động liên quan đến giới tính (nếu có).

– Dự tính tài nguyên, điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật sau khi được cơ quan có thẩm quyền-chấp thuận.

– Sắp xếp tài liệu đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo quy tắc của luật pháp;

– Tổ chức thu thập ý kiến từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; tổng hợp, nghiên cứu, trình bày, tiếp thu các ý kiến đóng góp;

– Đối với đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật không do Chính phủ hoặc ủy ban nhân dân đề xuất, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân cũng phải yêu cầu ý kiến của Chính phủ, ủy ban nhân dân và nghiên cứu, tiếp thu ý kiến.

Trending

Top 13 nhà hàng buffet hải sản tại TPHCM ngon và nổi tiếng, xứng đáng để thưởng thức.

Tiết lộ 10+ địa điểm tô tượng Hà Nội nổi bật nhất năm 2023 không thể bỏ qua.

Danh sách 16 quán cà phê lý tưởng để học tập yên tĩnh.

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Quy trình xây dựng pháp luật được thực hiện như thế nào? Hoạt động quy trình xây dựng pháp luật