Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

  • Home
  • Kiến thức
  • Sự hình thành chế độ sở hữu toàn dân và ý nghĩa của nó

Sự hình thành chế độ sở hữu toàn dân và ý nghĩa của nó

Chủ đề "Sở hữu toàn dân" là một khái niệm phổ biến trong lĩnh vực kinh tế và chính trị. Nhưng bạn đã hiểu rõ về nó chưa? Sở hữu toàn dân đề cập đến việc tất cả các thành viên trong một cộng đồng sở hữu và chia sẻ tài sản, tài nguyên chung. Điều này tạo ra một hình thức sở hữu công bằng và đảm bảo quyền lợi cho tất cả mọi người. Vậy, chế độ sở hữu toàn dân được hình thành như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu để khám phá thêm về chủ đề thú vị này!

Chia sẻ

1. Quy định về chế độ sở hữu của tất cả người dân.

Tài sản thuộc quyền sở hữu của toàn bộ người dân bao gồm: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên dưới lòng đất; nguồn lợi từ vùng biển, lục địa và không gian; phần vốn và tài sản mà Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp, công trình thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước.

Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của toàn bộ dân cư.

Việc quản lý, sử dụng, quyết định về tài sản thuộc sở hữu của toàn bộ người dân được thực hiện trong phạm vi và theo trình tự được quy định bởi luật pháp.

Chính phủ chuyển giao tài sản cho các công ty nhà nước, các cơ quan chính phủ, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị và tổ chức xã hội… sử dụng tài sản thuộc sở hữu của toàn dân.

Khi tài sản thuộc sở hữu của toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, thì Nhà nước thực hiện 5 quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp nhà nước và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Khi tài sản thuộc sở hữu của toàn dân được giao cho các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, thì Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản đó.

Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có thẩm quyền quản lý, sử dụng tài sản được Nhà nước giao theo đúng mục đích, phạm vi, theo cách thức, trình tự pháp luật quy định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được quy định trong điều lộ.

2. Phân tích quá trình hình thành hệ thống sở hữu công cộng

Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 chỉ rõ:

Theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước đại diện cho toàn bộ người dân, được nhân dân trao quyền lực chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, ngoại giao… để thực hiện nhiệm vụ cao quý và trọng đại là xây dựng và bảo vệ vững chắc đất nước theo chủ nghĩa xã hội.

Nhà nước đại diện cho nhân dân kiểm soát toàn bộ các nguồn tài nguyên chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ lịch sử quan trọng của mình. Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục xác nhận trong Điều 53:

Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Việt Nam về khu vực biển cũng có đề cập:

Vì vậy, tất cả các tài liệu sản xuất chính như đất đai, tài nguyên trên biển và dưới lòng đất dưới đáy biển thuộc vùng lục địa của Việt Nam… cùng với các tài sản khác theo quy định của pháp luật đều thuộc quyền quản lý, khai thác và sử dụng của Nhà nước Việt Nam theo chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước XHCN Việt Nam đại diện cho nhân dân quản lý và sở hữu các tài sản sản xuất theo quy định tại Điều 197 Bộ luật Dân sự và có quyền chiếm hữu, sử dụng và quyết định về các tài sản đó. Điều 198 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định như vậy.

Trước đây, khái niệm sở hữu toàn dân được hiểu là một thuật ngữ kinh tế, nhưng hiện nay nó cũng được hiểu là một thuật ngữ pháp lý. Do đó, tài sản của toàn dân cần có chủ sở hữu thực sự để thực hiện quyền sở hữu trong việc phát triển sản xuất, phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ an ninh, quốc phòng của đất nước.

Để tận dụng tài sản của người dân một cách hiệu quả, cần phải ủy quyền cho Nhà nước, cho người có thẩm quyền quyết định về tài sản của người dân theo quy định của pháp luật. Do đó, trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 201 quy định Nhà nước là đại diện thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu của toàn dân.

Quyền sở hữu của tất cả công dân, theo nghĩa tổng quát, bao gồm tập hợp các quy định pháp luật nhằm mục đích:

– Xác nhận việc sở hữu toàn dân (bao gồm cả sở hữu pháp lý và sở hữu thực tế) đối với những tài liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng nhất.

– Quy định về nội dung và thứ tự thực hiện các quyền lợi chiếm hữu, sử dụng và quyết định đối với tài sản thuộc sở hữu của toàn bộ người dân.

– Xác định phạm vi, thẩm quyền của các cơ quan chính phủ, các công ty do chính phủ thành lập để quản lý tài sản được giao theo quy định của luật pháp để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh, quản lý nhà nước hoặc hoạt động công ích…

Các công ty được cấp vốn, tài liệu sản xuất để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh hoặc hoạt động công ích do Chính phủ giao. Các công ty có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản, được quyền quản lý, trừ những thiết bị, nhà xưởng quan trọng theo quy định của Chính phủ phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép trên nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn (Điều 200 Bộ luật Dân sự).

Do đó, Nhà nước chuyển giao tài sản cho các doanh nghiệp và cho phép doanh nghiệp thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó trong một phạm vi được quy định bởi pháp luật. Quyền sở hữu hạn chế của các cơ quan và doanh nghiệp của Nhà nước bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và quyết định (theo quy định tại Điều 201 Bộ Luật Dân sự).

Theo quan điểm cá nhân (hoặc hạn chế), quyền sở hữu công cộng có thể hiểu là tất cả các hành động mà Nhà nước và các chủ sở hữu khác thực hiện như là đại diện cho chủ sở hữu, bao gồm việc chiếm hữu, sử dụng và quyết định về tài sản của họ. Nhà nước ‘là chủ’ của các tài liệu sản xuất chính, nhưng không có ai quy định rõ ràng về phạm vi quyền hạn của Nhà nước đối với các tài liệu sản xuất đó. Nhà nước tự quy định các quyền và thủ tục để thực hiện các quyền đó, nhưng điều đó không có nghĩa là quyền hạn của Nhà nước là không giới hạn đối với tài sản mà Nhà nước sở hữu. Giống như các chủ thể khác, Nhà nước chỉ có thể thực hiện quyền sở hữu trong phạm vi được pháp luật cho phép. Nói cách khác, các quyền đó cũng phải tuân theo quy định của pháp luật.

3. Phân tích đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai?
Phân tích về người đại diện của toàn bộ dân chủ sở hữu đối với đất đai.

Nhà nước đại diện cho toàn bộ dân chúng để thực hiện quyền sở hữu và quản lý đất đai. Đặc biệt, Nhà nước của chúng ta được thành lập với tư cách là ‘Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân’, cùng với một hệ thống cơ quan quản lý được tổ chức chặt chẽ. Điều này là cách để thực hiện quyền sở hữu đất đai của toàn bộ dân chúng.

Bất kỳ rào cản pháp lý nào liên quan đến luật dân sự về chế độ sở hữu, quyền sở hữu và các vấn đề liên quan khác cũng có thể được giải quyết bằng cách liên hệ ngay với số điện thoại: 1900.6162.

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Sự hình thành chế độ sở hữu toàn dân và ý nghĩa của nó