Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

Tái phạm và quy định về nó theo Luật hình sự

Tái phạm là một khái niệm phổ biến trong lĩnh vực pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ về ý nghĩa và quy định về tái phạm theo Luật hình sự. Vì vậy, trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về khái niệm tái phạm, những quy định liên quan đến nó và tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa tái phạm. Hãy cùng nhau khám phá và tìm hiểu về vấn đề này nhé!

Chia sẻ

1. Ý nghĩa tái phạm

Tái phạm là hành vi vi phạm pháp luật sau khi đã bị xét xử và áp dụng hình phạt, nhưng chưa được xóa bỏ hồ sơ về tội đã bị kết án đó.

Tái phạm là một yếu tố cho thấy bản chất xấu của người phạm tội. Vì vậy, luật hình sự Việt Nam luôn coi tái phạm là một yếu tố làm tăng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, chỉ từ khi Bộ luật hình sự đầu tiên (Bộ luật hình sự năm 1985) có hiệu lực, luật hình sự Việt Nam mới có quy định cụ thể về tái phạm. Khi quy định về tái phạm, luật hình sự phải xác định tính chất của tội đã bị xét xử cũng như tính chất của tội mới phạm để giới hạn phạm vi những trường hợp được coi là tái phạm. Phạm vi này có thể thay đổi do các lý do khác nhau. Vì vậy, có thể nói, khái niệm tái phạm có thể không giống nhau ở mỗi quốc gia và thời kỳ khác nhau. Theo Bộ luật hình sự, tái phạm là khi một người đã bị kết án và áp dụng hình phạt, chưa được xoá án tích nhưng lại phạm tội cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Điều kiện xác định hành vi lặp lại
Đầu vào: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương tự bằng tiếng Việt
Đầu ra:

Vậy, việc xác định việc tái phạm đối với trường hợp đã bị kết án mà phạm tội lại đòi hỏi:

1) Người bị cáo chưa được xóa bỏ tiền án về tội đã được đưa ra xét xử.

2) Tội phạm phải là tội cố ý hoặc là tội vô ý nhưng thuộc loại tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.

Tội tái phạm đã có sự khác biệt so với quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985. Bộ luật hình sự năm 1985 không chỉ quy định loại tội mới phạm (tội cố ý hoặc nghiêm trọng do vô ý) mà còn quy định cả loại tội đã bị xét xử (tội cố ý hoặc nghiêm trọng do vô ý). Trong khi Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định loại tội mới. Tuy nhiên, cả hai bộ luật đều có điểm tương đồng về mối quan hệ giữa tội đã quy định này và tội mới phạm. Điểm tương đồng này là không quy định bị xét xử và tội mới phạm.

3. Quy định của Luật Hình sự năm 2015
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: 3. Điều khoản của Luật Hình sự năm 2015

Theo Điều 53 Bộ Luật Hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018), tái phạm được hiểu là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích nhưng lại thực hiện hành vi vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

4. Đặt ra sự phân biệt giữa việc tái phạm và vi phạm hành chính nhiều lần.

Khái niệm là một ý tưởng hoặc khái quát về một vấn đề hoặc một hiện tượng. Nó thường được hình thành từ các quan sát, trải nghiệm và suy nghĩ của con người. Khái niệm giúp chúng ta hiểu và diễn giải thế giới xung quanh, và cung cấp một cách để chia sẻ và truyền đạt thông tin và kiến thức.

Vi phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý (Khoản 6 Điều 2 Luật XLVPHC 2012).
Vi phạm hành chính nhiều lần là tình huống cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hạn xử lý (Khoản 6 Điều 2 Luật XLVPHC 2012).

Tái phạm là khi cá nhân hoặc tổ chức đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn tiếp tục vi phạm trước khi hết thời hạn của quyết định xử phạt. Tương tự, khi cá nhân đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa hết thời hạn, nếu tiếp tục thực hiện hành vi thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đó, cũng được coi là tái phạm. (Theo Khoản 5 Điều 2 Luật XLVPHC 2012 sđbs, được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật XL VPHC 202).

Tái phạm khác với vi phạm hành chính nhiều lần trong việc xem xét xử phạt vi phạm hành chính, vì trước đó hành vi này đã bị xử phạt hoặc chưa. Vi phạm hành chính nhiều lần là khi một cá nhân hoặc tổ chức đã vi phạm cùng một hành vi nhiều lần, nhưng trước đó chưa bị xử phạt. Trong khi đó, tái phạm trong vi phạm hành chính là khi hành vi đã bị xử phạt, nhưng lại tiếp tục vi phạm hành vi đó.

Cách thức trừng phạt

Bị phạt vì từng hành vi vi phạm, trừ khi hành vi vi phạm hành chính được lặp lại nhiều lần và được quy định là tình tiết nghiêm trọng (Điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý Vi phạm Hành chính được sửa đổi theo Khoản 2 Điều 1 Luật Xử lý Vi phạm Hành chính năm 2020).

Vi phạm lần thứ hai được coi là tình tiết trầm trọng hơn (điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012).

Phạm lỗi hành chính nhiều lần sẽ bị phạt cho từng hành vi vi phạm, trong khi vi phạm lần thứ hai sẽ không bị xử phạt.

Tuy vậy, sự lặp lại vi phạm và tái phạm nhiều lần cùng loại được coi là yếu tố làm tăng trọng tội.

Do đó, theo quy định này những trường hợp vi phạm pháp luật được xem là vi phạm lần thứ hai bao gồm:

Trước tiên, kẻ phạm tội đã bị kết án, không có sự xóa bỏ hồ sơ tội phạm và tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý.

Ngày thứ hai, kẻ phạm tội đã bị kết án, không được xoá bỏ tiền án và đã thực hiện một tội phạm cực kỳ nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do không cố ý.

5. Các trường hợp dưới đây được xem là vi phạm lặp lại đáng lo ngại.

Trước tiên, đã bị kết án vì tội phạm cực kỳ nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do có ý định, chưa được xóa bỏ hồ sơ tội phạm mà lại thực hiện hành vi vi phạm về tội phạm cực kỳ nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do có ý định.

Ngày thứ hai, đã vi phạm lần thứ hai, chưa bị xoá bỏ hồ sơ tội phạm mà lại thực hiện hành vi phạm tội có chủ ý.

Theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015, việc tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm sẽ dẫn đến tăng nặng trách nhiệm hình sự và việc áp dụng phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm.

Vi phạm được quy định trong Luật hình sự là yếu tố gia tăng trách nhiệm hình sự.

6. Phân biệt lặp lại và lặp lại nguy hiểm

a) Đã bị kết án về tội phạm cực kỳ nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi vi phạm về tội phạm cực kỳ nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.

b) Đã vi phạm lần nữa, chưa được xoá bỏ tiền án mà lại thực hiện hành vi phạm tội do chủ ý.

– Một điều là, người đó đã bị kết tội. Người đã bị kết tội là người có bản án phạm tội của Tòa án mà không phụ thuộc vào việc bản án đó có hiệu lực Pháp luật hay chưa. Vì vậy, ngay từ khi tuyên án kết tội đầu tiên đối với một người mà người đó lại vi phạm tội mới theo quy định tại khoản 1 điều 53 thì được coi là tái phạm (quy định này không áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm tội).

– Xin chào, người bị kết án vẫn giữ nguyên tiền án. Điều này có nghĩa là điều kiện cần là việc kết án đó phải tạo ra tiền án và tiền án chưa được xóa, và người đó lại phạm tội mới thì mới được coi là tái phạm.

– Tội phạm mới chỉ xảy ra khi có ý định hoặc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Để xác định việc tái phạm, luật hình sự quy định rằng tội phạm mới phải thuộc một số trường hợp phạm tội nhất định như tội phạm mới do ý định, hoặc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý, và người phạm tội không chấp nhận các biện pháp cải tạo giáo dục của pháp luật.

Việc xác định một cá nhân ‘lặp lại hành vi nguy hiểm’ trong tình huống này cần đảm bảo các chỉ báo sau:

Dấu hiệu vi phạm lại phải được xác định thông qua quyết định hoặc phán quyết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi phán quyết đó chưa được xóa án tích, và người này lại vi phạm tội mới thì mới coi là vi phạm nguy hiểm.

Mặc dù khoản 1 Điều 53 BLHS năm 2015 quy định về tình tiết tái phạm không đề cập đến việc phải có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật để xác định tình tiết tái phạm, nhưng cần hiểu rằng, việc xác định tình tiết tái phạm không thể được thực hiện độc lập mà phải liên quan đến việc xem xét trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Theo BLHS, BLTTHS, quyền tuyên án và quyết định hình phạt thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Đồng thời, khoản 1 Điều 53 BLHS năm 2015 chỉ đề cập đến các dấu hiệu để xác định việc tái phạm mà không quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền để xác định người phạm tội tái phạm. Do đó, trong trường hợp Tòa án không xác định người phạm tội tái phạm khi kết án lần thứ hai, nguyên tắc khi xét xử tội mới là Tòa án không được áp dụng khái niệm tái phạm nguy hiểm.

7. Dựa vào đánh giá lại việc vi phạm hay không?
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: viết lại đoạn này sử dụng các từ có nghĩa tương tự sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt

– Trước khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, người đó đã bị xét xử hay chưa.

Theo quy định tại Luật Hình sự năm 2015, người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đã bị kết án trước đó về bất kỳ tội danh nào không phụ thuộc vào loại tội hay dấu hiệu vi phạm. Tội danh mà người đó đã bị kết án trước đó có thể là tội rất nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng; vi phạm của người phạm tội ở đây có thể là vi phạm cố ý hoặc vi phạm vô ý.

– Kẻ phạm tội đã bị kết tội nhưng chưa được xoá tội danh.

Người bị xóa án tích sẽ được coi như chưa từng bị kết án. Việc xóa án tích đối với người phạm tội được thực hiện theo quy định trong Chương X của Luật Hình sự năm 2015. Theo đó, việc xóa án tích được xem xét dựa trên việc họ đã hoàn thành toàn bộ nội dung của bản án liên quan đến họ, bao gồm cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác như án phí, bồi thường thiệt hại… Trường hợp người nào đã phạm tội mà chưa được xóa án tích về tội cũ, và sau đó lại vi phạm tội mới, sẽ được xem xét xem đây có phải là hành vi tái phạm hay không.

– Kẻ thực hiện hành vi phạm tội mới do sai lầm cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội vô cùng nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do sai lầm không cố ý.

Trường hợp kẻ phạm tội thực hiện tội mới là tội nhẹ, tội nghiêm trọng thì được xác định là hành vi tái phạm khi tội mới này kẻ phạm tội thực hiện với lỗi cố ý, còn nếu thực hiện với lỗi vô ý thì hành vi phạm tội này không được coi là tái phạm. Trường hợp tội mới mà kẻ phạm tội thực hiện là tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng thì không phân biệt kẻ phạm tội mới do lỗi cố ý hay vô ý, người thực hiện hành vi phạm tội này đều được xác định là hành vi tái phạm.

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Tái phạm và quy định về nó theo Luật hình sự