Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

  • Home
  • Kiến thức
  • Tìm hiểu về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và ví dụ minh họa

Tìm hiểu về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và ví dụ minh họa

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm tội nghiêm trọng, khi một người sử dụng quyền hạn hoặc tín nhiệm của mình để chiếm đoạt tài sản của người khác mà không có sự đồng ý của họ. Đây là một hành vi phạm pháp đáng lên án, gây thiệt hại không chỉ về mặt tài chính mà còn ảnh hưởng đến lòng tin và sự ổn định trong xã hội. Ví dụ, một nhân viên ngân hàng lợi dụng quyền truy cập vào tài khoản của khách hàng để chiếm đoạt tiền bạc là một trường hợp lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Hãy cùng tìm hiểu thêm về vấn đề này để bảo vệ mình và xã hội khỏi những hành vi bất lương này.

Chia sẻ

1. Định nghĩa vi phạm tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được quy định lần đầu tiên tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đây là tội mà trước đây đã được gọi là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân, được quy định tại Điều 158. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa cũng đã được quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1985. Tuy nhiên, chỉ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành, tội này mới được quy định một cách chặt chẽ và cụ thể. Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Theo quy định, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác thông qua các hợp đồng rồi sử dụng các cách thức gian dối để chiếm đoạt tài sản đó. Hoặc là không trả lại tài sản mặc dù có khả năng trả, hoặc là sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Để bị xem là vi phạm tội này, giá trị của tài sản bị chiếm đoạt phải từ bốn triệu đồng trở lên. Nếu giá trị tài sản dưới bốn triệu đồng, thì phải đáp ứng các điều kiện khác của luật, như đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và điều 290 của Bộ luật này, và vẫn còn vi phạm mà chưa được xóa án tích. Hoặc là tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình của họ.

2. Các biểu hiện của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Có khả năng chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi từ 16 tuổi trở lên. Đây là một trong những điểm mới của Luật hình sự 2015 so với Luật hình sự 1999, bộ luật mới đã có sự phân chia rõ ràng hơn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Người bị tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có cách thức tương tự như các tội chiếm đoạt khác, nhưng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không ảnh hưởng đến quan hệ cá nhân mà chỉ ảnh hưởng đến quyền sở hữu. Điều này khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc để chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản. Điểm khác biệt này được thể hiện trong việc xác định hình phạt, vì luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do đó, nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị truy bắt và có hành vi chống trả để trốn thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Tương tự như tội chiếm đoạt, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện một cách cố ý. Mục đích của kẻ phạm tội là mong muốn chiếm đoạt tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản là yếu tố bắt buộc để xem xét tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, kẻ phạm tội cũng có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của đồng phạm, thì kẻ phạm tội cũng sẽ chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi lạm dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản xảy ra khi có một trong các trường hợp sau: (i) Giá trị của tài sản bị chiếm đoạt từ 4.000.000 đồng trở lên; (ii) Giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội liên quan đến việc xâm phạm quyền sở hữu: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà vẫn vi phạm; (iii) Tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống của chính người bị hại hoặc gia đình của họ.

Các hành vi khách quan cần chú ý bao gồm: (i) Khi người vi phạm sử dụng các hợp đồng vay, mượn hoặc thuê tài sản của người khác một cách hợp pháp để có được tài sản, sau đó sử dụng các thủ đoạn gian dối hoặc trốn tránh để chiếm đoạt tài sản đó hoặc không trả lại tài sản mặc dù có khả năng và điều kiện để trả; (ii) Nếu người vi phạm không sử dụng các thủ đoạn gian dối hoặc trốn tránh, nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không khả năng trả lại tài sản, cũng được coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.


Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Tìm hiểu về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và ví dụ minh họa