Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

  • Home
  • Kiến thức
  • Tìm hiểu về Luật doanh nghiệp và quá trình phát triển của nó

Tìm hiểu về Luật doanh nghiệp và quá trình phát triển của nó

Luật doanh nghiệp là một hệ thống quy định pháp lý quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức và cá nhân. Nó định rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, cung cấp khung pháp lý để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong môi trường kinh doanh. Quá trình phát triển Luật doanh nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn và thay đổi theo thời gian. Từ những quy định ban đầu đơn giản, Luật doanh nghiệp ngày nay đã trở thành một hệ thống phức tạp và toàn diện, phục vụ cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Hãy cùng tìm hiểu về quá trình phát triển và tầm quan trọng của Luật doanh nghiệp trong bài viết này.

Chia sẻ

1. Định nghĩa về công ty?

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên gọi riêng, sở hữu tài sản và có địa chỉ trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Những ưu điểm so sánh mà doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư là yếu tố quan trọng nhất cần được xem xét khi quyết định chọn hình thức doanh nghiệp để đăng ký kinh doanh.

Tại Việt Nam hiện tại, có nhiều hình thức kinh doanh khác nhau với các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Thông thường, có các hình thức kinh doanh như công ty TNHH, công ty CP, công ty HD và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi ngành kinh tế, nhóm công ty,… Việc thành lập công ty để kinh doanh cũng trở nên dễ dàng hơn nhờ vào sự phổ biến của các dịch vụ hỗ trợ thành lập công ty trên thị trường hiện nay.

Do đó, việc chọn một hình thức kinh doanh phù hợp với bản chất kinh doanh, quy mô ngành nghề và khả năng tài chính của người sáng lập công ty là rất quan trọng và ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.

Luật kinh doanh là một văn bản pháp luật có cấu trúc chứa đựng các quy định về các điều kiện, quy trình thành lập, tổ chức và hoạt động của các loại công ty như công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.

Luật doanh nghiệp được hình thành như thế nào?

Khi Luật doanh nghiệp được hình thành, nó được chia thành hai nhánh riêng biệt, đó là Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật doanh nghiệp nhà nước. Luật doanh nghiệp tư nhân ra đời vào năm 1990 và sau đó được sửa đổi vào năm 1994. Tuy nhiên, vào năm 1999, tên của Luật này đã được rút ngắn và từ ‘tư nhân’ đã bị loại bỏ, trở thành Luật doanh nghiệp năm 1999. Luật doanh nghiệp nhà nước ra đời vào năm 1995 và sau đó được sửa đổi và bổ sung vào năm 2003. Sau quá trình áp dụng và thực tiễn, nhận thấy cần phải thống nhất hai nhánh luật này thành một. Vì vậy, Chính phủ đã quy định chung về doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước trong một Luật duy nhất, được ban hành vào năm 2005. Sau đó, Luật này đã được chỉnh sửa một lần vào năm 2013. Trong kỳ quốc hội lần thứ 13, Luật doanh nghiệp năm 2014 được ban hành để khắc phục những hạn chế của Luật năm 2005. Tuy nhiên, với sự phát triển của kinh tế xã hội, một số điều trong Luật doanh nghiệp 2014 không còn phù hợp với thực tế. Do đó, trong kỳ quốc hội thứ 14, Luật doanh nghiệp năm 2020 đã được ban hành. Dưới đây là một số nhận xét

2.1 Nhận xét về quy định kinh doanh năm 1999

Luật kinh doanh được Quốc hội của Việt Nam thông qua trong Khoá X, kì họp thứ 5 vào ngày 12.6.1999, thay thế cho Luật công ty năm 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990, đã được chỉnh sửa và bổ sung vào năm 1994.

Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật là việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội khi được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ phần thì được điều chỉnh theo Luật này. Về nguyên tắc, việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam áp dụng theo các quy định của Luật doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác có liên quan. Trong trường hợp có sự khác biệt giữa quy định của Luật doanh nghiệp và Luật chuyên ngành về cùng một vấn đề, thì áp dụng theo quy định của Luật chuyên ngành.

Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân được Quốc hội Khoá VIII thông qua vào cuối năm 1990 (được sửa đổi vào năm 1994) là một bước quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Sau hơn 8 năm tồn tại, hai luật này đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Để đáp ứng yêu cầu cải cách và phát triển kinh tế, cũng như hội nhập quốc tế, việc ban hành luật mới là rất cấp bách. Trong đó, một số vấn đề liên quan đến thành lập, tổ chức quản lý và chuyển đổi cơ cấu của các hình thức tổ chức kinh doanh cần được quy định rõ ràng để tạo ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư lựa chọn.

Luật doanh nghiệp năm 1999 bao gồm 10 chương với 124 điều. Chương l – Quy định chung, gồm 8 điều, xác định phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc áp dụng và quy định quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp. Chương lÌ – Thành lập và đăng kí kinh doanh, gồm 17 điều, xác định quyền thành lập và quản lí doanh nghiêp, quyền góp vốn, trình tự thành lập doanh nghiệp và đăng kí kinh doanh; quy định về văn phòng đại diện và chỉ nhánh của doanh nghiệp. Chương IIl – Công ti trách nhiệm hữu hạn, gồm 25 điều với 2 mục: “Công ti trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên’ và ‘Công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên’. Công tỉ trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, không được quyền phát hành cổ phiếu, các thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ti trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ti. Đối với công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên, là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu và chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa

Tuy nhiên, sau 6 năm thực hiện, Luật kinh doanh năm 1999 đã tiết lộ những hạn chế của nó. Do đó, vào ngày 29.11.2005, Quốc hội đã thông qua Luật kinh doanh năm 2005. Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế; quy định về nhóm công ty. Đối tượng áp dụng của Luật là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp. Luật bao gồm 10 chương với 171 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01.07.2006.

2.2 Nhận xét về Luật kinh doanh năm 2014
Viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt:
2.2 Đánh giá về Luật kinh doanh năm 2014

Trước và trong quá trình ban hành, Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN năm 2014) đã được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều thay đổi tích cực trong việc thúc đẩy, phát triển quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức. Quyền tự do kinh doanh là quyền tự quyết, là một trong những quyền tự do cơ bản của con người, của công dân. Dựa trên ý nghĩa sâu sắc có sẵn của tự do và theo ngôn ngữ pháp luật, có thể coi quyền tự do kinh doanh là khả năng của cá nhân, tổ chức được thực hiện những hành vi pháp luật không bị cấm phù hợp với nhu cầu và lựa chọn của mình để tìm kiếm lợi ích thông qua các giao dịch trong hoạt động kinh tế. Về nguyên tắc, pháp luật cấm hoặc hạn chế một hay một số hành vi nào đó của cá nhân, tổ chức là nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ thể khác như Nhà nước, xã hội hay bên thứ ba trong mối quan hệ Nhà nước – cá nhân và tổ chức kinh doanh. Cũng có những hành vi pháp luật không bị cấm trực tiếp nhưng cá nhân, tổ chức không được thực hiện nếu hành vi đó xâm phạm đến lợi ích của chủ thể khác mà Nhà nước đang bảo vệ. Chúng tôi cho rằng, các quy

Quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức có phạm vi rộng, đa dạng và được thể hiện trong nhiều hoạt động khác nhau của cá nhân và tổ chức. Điều này bao gồm quyền tự do thành lập hoặc không thành lập doanh nghiệp và quyền chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, còn có quyền tự do lựa chọn mô hình quản trị, điều chỉnh quy mô doanh nghiệp và lựa chọn các lĩnh vực kinh doanh phù hợp. Quyền tự do ký kết và thực hiện hợp đồng cũng được đảm bảo, cùng với quyền tự do quyết định địa điểm hoạt động và thị trường. Cuối cùng, quyền tự do lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp cũng được bảo đảm. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày một số ý kiến của các tác giả về một số điều khoản trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 liên quan đến quyền tự do kinh doanh của cá nhân và tổ chức.

Theo quy định tại Khoản khoản 19 Điều 4 LDN năm 2014, người thành lập doanh nghiệp có thể là tổ chức hoặc cá nhân tham gia vào quá trình thành lập doanh nghiệp và đóng góp vốn. Tuy nhiên, cũng có người chỉ đóng góp vốn mà không tham gia vào quá trình thành lập doanh nghiệp. Theo quy định tại Khoản khoản 2 Điều 4 LDN năm 2014, cổ đông sáng lập là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần. Theo quy định của Khoản khoản 2, Điều 119 LDN năm 2014, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề chưa rõ ràng ở đây là người góp vốn để thành lập doanh nghiệp có phải là cổ đông sáng lập hay chỉ là những người mua (đăng ký mua) 80% còn lại của vốn điều lệ? Theo tôi, người góp vốn để thành lập doanh nghiệp không nhất thiết phải là cổ đông sáng lập của công ty cổ phần. Xét từ góc độ này, người góp vốn thành lập doanh nghiệp và người mua cổ phần hoặc phần vốn góp trong công ty cổ phần,

Có thể nhận thấy hai hành vi trên không có sự khác biệt về bản chất. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định khác nhau về vấn đề này. Cụ thể, theo quy định tại Điều 18 Khoản 2 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: i) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; ii) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam; iii) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước; iv) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; v) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh

Việc giải thích và lý giải một cách thuyết phục việc cấm đối tượng góp vốn thành lập doanh nghiệp trong pháp luật là khó khăn, đặc biệt khi phân tích vấn đề từ các khía cạnh chính trị – xã hội và kinh tế – xã hội.

(i) Dưới khía cạnh chính trị – xã hội:
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: (i) Dưới phương diện chính trị – xã hội:

– Sự không nhất quán của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về quyền thành lập doanh nghiệp và đóng góp vốn đã đặt ra vấn đề quan trọng hơn, đó là xác định quyền lợi của những người bị ảnh hưởng khi các cá nhân cụ thể (như những người không được phép thành lập doanh nghiệp theo quy định tại các điểm b, c, đ, e trong Khoản 2 Điều 18) đóng góp vốn thành lập doanh nghiệp mà không tham gia quản lý. Chúng ta có thể lấy ví dụ những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đang chấp hành án tù. Theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự được coi là bị can hoặc bị cáo. Nguyên tắc giả định vô tội xác định rằng cho đến khi có bản án của tòa án có hiệu lực pháp luật, bị can, bị cáo (người bị truy cứu trách nhiệm hình sự) không được coi là người có tội. Do đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cấm những đối tượng này đóng góp vốn thành lập doanh nghiệp, điều này có nghĩa là hạn chế quyền tự do kinh doanh của họ một cách không cần thiết. Mặc dù có thể còn nhiều vấn đề cần thảo lu

Hơn nữa, một vấn đề khác chưa được giải quyết là quyền thành lập doanh nghiệp của những người bị án treo, cải tạo không giam giữ, được miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự hoặc những cá nhân phạm tội nhưng chịu hình phạt khác ngoài tù. Những người này không phải là đối tượng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự (vì đã có bản án của tòa) và cũng không đang chấp hành hình phạt tù. Nếu Điểm 2 Điều 18 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 được hiểu là những người này có quyền không chỉ đóng góp vốn thành lập mà còn thực hiện các thủ tục thành lập doanh nghiệp và tham gia quản lý doanh nghiệp, thì điều này cũng không công bằng với những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị cấm đóng góp vốn thành lập doanh nghiệp như đã nêu trên.

(ii) Dưới khía cạnh kinh tế – xã hội:
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: (ii) Dưới phương diện kinh tế – xã hội:

Tạm thời, vì yêu cầu về quản lý doanh nghiệp, những người đang bị phạt tù không được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp đồng thời. Tuy nhiên, việc cấm những người này góp vốn để thành lập doanh nghiệp lại là một vấn đề cần xem xét. Việc họ đang chấp hành hình phạt tù là việc họ cá nhân bị tước một số quyền tự do và đang được giáo dục, cải tạo để trở thành công dân tốt sau khi hết thời hạn chấp hành hình phạt. Nếu những người này có tài sản và muốn góp vốn (không tham gia quản lý doanh nghiệp) cùng với những người khác để thành lập doanh nghiệp, điều này là đáng khuyến khích vì: i) việc góp vốn có thể mang lại lợi tức để đảm bảo cuộc sống sau khi chấp hành xong hình phạt, góp phần giảm gánh nặng cho xã hội; ii) việc những người đang chấp hành hình phạt tù góp vốn thành lập doanh nghiệp làm tăng tiềm lực đầu tư của xã hội; iii) việc những người đang chấp hành hình phạt tù góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc mua lại phần vốn góp hoặc mua cổ phần (trong trường hợp không tham gia quản lý doanh nghiệp) không gây thiệ

Do những lý do trên, việc LDN năm 2014 đang hạn chế một số đối tượng bao gồm những người đang chấp hành án tù đóng góp vốn thành lập doanh nghiệp (không tham gia quản lý doanh nghiệp và không phải là cổ đông hoặc thành viên sáng lập) là không thuyết phục và hạn chế không cần thiết quyền tự do kinh doanh của những chủ thể này. Hơn nữa, sự hạn chế trên còn cản trở khả năng đầu tư hợp pháp của những người này, gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Bên cạnh đó, có thể để tránh trường hợp người thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp không có quyền thành lập doanh nghiệp, Điều 18 Khoản 2 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã đưa ra quy định mới là khi cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu tiểu sử pháp lý cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Đúng như quy định về tiểu sử pháp lý hiện hành, mẫu Phiếu tiểu sử pháp lý số 2 sẽ chứa thông tin về các vị trí bị cấm đảm nhiệm, cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Tuy nhiên, quy định này cũng có một số hạn chế. Cách thể hiện quy định theo kiểu ‘khi cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu…’ cho thấy sự mơ hồ khi trao quyền cho cơ quan đăng ký kinh doanh, làm cho cá nhân và tổ chức không thể biết trước khi nào cần nộp Phiếu tiểu sử pháp lý khi thành lập doanh nghiệp. Mặc dù việc yêu cầu nộp Phiếu tiểu sử pháp lý thường chỉ áp dụng với cá nhân đăng ký kinh doanh là người nước ngoài, điều này có nghĩa là quy định này không bắt buộc trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, Luật Do

Theo quy định tại Điều 17 Khoản 3 của Luật Doanh nghiệp năm 2014, một trong các hành vi bị cấm là ‘kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký hoặc tiếp tục kinh doanh sau khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp’. Việc cấm tiếp tục kinh doanh sau khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là vấn đề có thể giải thích được về tính hợp lý, vì việc bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bắt nguồn từ việc vi phạm pháp luật của tổ chức kinh doanh đã tồn tại. Tuy nhiên, quy định ‘cấm hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký’ lại là vấn đề cần xem xét.

Theo nguyên tắc, mỗi cá nhân có quyền tự do hành động vì lợi ích của mình và giới hạn của quyền này là không vi phạm lợi ích của Nhà nước, xã hội và người khác. Điều này có nghĩa là khi pháp luật cấm hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký, pháp luật phải rõ ràng chỉ ra rằng hành vi này gây thiệt hại cho Nhà nước, xã hội hoặc người thứ ba. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng việc kinh doanh không đăng ký không vi phạm quyền lợi của Nhà nước, xã hội và bất kỳ chủ thể nào khác. Hơn nữa, việc pháp luật công nhận hành vi này sẽ tạo cơ hội cho cá nhân tận dụng cơ hội kinh doanh của mình và đương nhiên khi cá nhân tận dụng cơ hội kinh doanh của mình, thu nhập sẽ phát sinh và Nhà nước sẽ được hưởng lợi từ việc thu thuế thu nhập cá nhân.

Chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đã có các công cụ quản lý hoạt động thương mại (công cụ chủ yếu là các loại luật về Thuế như- Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 và Luật Thuế Thu thu nhập cá nhân 2007 ) thì cần có cách nhìn mở rộng hơn trong vấn đề đăng ký thành lập doanh nghiệp. Đã đến lúc pháp luật nên để cá nhân tự lựa chọn một trong hai hình thức: kinh doanh có đăng ký và kinh doanh không đăng ký, và nên coi đăng ký doanh nghiệp là bắt đầu từ nhu cầu của cá nhân, bởi vì:


Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Tìm hiểu về Luật doanh nghiệp và quá trình phát triển của nó