Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

Tìm hiểu về Luật ngân hàng và vai trò quan trọng của nó

Luật ngân hàng là một hệ thống quy định và điều chỉnh các hoạt động của các tổ chức ngân hàng và các giao dịch tài chính liên quan. Với vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của người dân và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính, pháp luật ngân hàng đóng vai trò không thể thiếu trong mỗi quốc gia. Bài viết này sẽ giới thiệu về luật ngân hàng, những quy định quan trọng và vai trò của nó trong việc duy trì sự tin cậy và sự phát triển của ngành ngân hàng. Hãy cùng tìm hiểu thêm về chủ đề này!

Chia sẻ

1. Quá trình thành lập của cơ quan tài chính

Với sự phát triển của hàng hóa, một tầng lớp trung gian trong việc trao đổi các loại tiền khác nhau đã xuất hiện. Nghề đổi tiền ra đời đầu tiên ở miền Bắc Italia. Do nhu cầu của xã hội, nghề đổi tiền cũng đã phát triển thêm nhiều dịch vụ tài chính khác như: nhận tiền gửi, thực hiện ủy thác thanh toán. Đến thế kỉ XVII, ở nhiều quốc gia, các nhà kinh doanh tiền tệ đã hợp tác thành lập ngân hàng dưới hình thức công ty, như Ngân hàng Amxtecđam (Amsterdam) ở Hà Lan năm 1609, Ngân hàng [me (Hambourg) ở Đức năm 4619…. Do các ngân hàng trong thời kì này có quyền phát hành tiền, điều này đã dẫn đến tình trạng lạm phát ở nhiều quốc gia. Vì vậy, đến đầu thế kỉ XVIII, các quốc gia đã quy định chỉ cho phép một số ngân hàng đủ điều kiện mới được phép phát hành tiền. Các ngân hàng được phép phát hành tiền được gọi là ngân hàng trung ương, còn các ngân hàng khác được gọi là ngân hàng trung gian. Đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, ở châu Âu, nhiều quốc gia đã quy định chỉ cho phép một ngân hàng phát hành tiền. Sau thời kì khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, các ngân hàng phát hành tiền được g

Ở Việt Nam, trong thời kỳ thuộc địa Pháp, từ trước Thế chiến thứ nhất có Đông Dương ngân hàng (1875). Sau Thế chiến thứ nhất có Đông Á ngân hàng (1921), Ngân hàng thương mại Pháp (1922). Sau Thế chiến thứ hai có Hưng Quốc ngân hàng (1946), Giao thông ngân hàng, Quốc gia thương và kỹ thuật ngân hàng (1947). Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam (1951), hiện nay là Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội Khóa X, kì họp thứ 2 thông qua năm 1997, ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ ngân hàng bao gồm việc nhận tiền gửi có thời hạn và không thời hạn để cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán.

Ngân hàng là một loại tổ chức tín dụng không bị hạn chế trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh ngân hàng, khác với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Tổ chức tín dụng là ngân hàng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh liên quan. Trong khi đó, tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn và không được cung cấp dịch vụ thanh toán (ví dụ: tổ chức tín dụng).

Trong cấu trúc các tổ chức ngân hàng, ngân hàng trung ương là ngân hàng có nhiều đặc điểm khác biệt. Ở một số quốc gia, ngân hàng trung ương cũng là một tổ chức được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp (như Hoa Kỳ, Hungary…). Trong khi đó, ở một số quốc gia khác, ngân hàng trung ương lại được thành lập dưới hình thức pháp nhân công quyền (như Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam…).

Theo quy định của Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1997, Ngân hàng trung ương Việt Nam là một tổ chức thuộc Chính phủ và là ngân hàng trung tâm của đất nước.

2. Định nghĩa về quy định ngân hàng?

Giống như việc nghiên cứu các lĩnh vực luật khác, việc xác định ý nghĩa của thuật ngữ ‘luật ngân hàng’ phụ thuộc vào cách phân loại các lĩnh vực luật theo các hệ thống pháp lý khác nhau. Do đó, việc áp dụng các hệ thống phân loại khác nhau sẽ dẫn đến hiểu biết về ‘luật ngân hàng’ với nội dung khác nhau.

Trước đây, trong các quốc gia xã hội chủ nghĩa, khi nền kinh tế hoạt động theo hình thức kế hoạch tập trung, chính phủ xã hội chủ nghĩa thực hiện chính sách độc quyền về ngân hàng. Theo chính sách này, chỉ có nhà nước mới được phép hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Tất cả các ngân hàng trong nền kinh tế quốc gia đều thuộc sở hữu của nhà nước.

Để thực hiện mục tiêu sử dụng ngân hàng như một công cụ quan trọng để điều hành cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các nước xã hội chủ nghĩa xây dựng hệ thống ngân hàng theo mô hình ngân hàng một cấp. Theo mô hình này, không chỉ Ngân hàng nhà nước và các chi nhánh của nó thực hiện chức năng quản lý nhà nước mà các ngân hàng quốc doanh khác cũng có chức năng quản lý nhà nước. Trong các hoạt động kinh doanh, theo quy định của pháp luật, các ngân hàng quốc doanh tham gia với tư cách là chủ thể kinh doanh và cơ quan quản lý nhà nước. Do đó, các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung thực chất là các quan hệ quản lý nhà nước. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ này có đặc điểm của pháp luật quản lý nhà nước.

Do đó, Luật ngân hàng trong hệ thống kinh tế quốc gia có thực chất là quy định của chính phủ về quản lý ngân hàng.

Vì các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ngân hàng có các đặc tính tương tự với các quan hệ tài chính trong các lĩnh vực khác như ngân sách nhà nước, bảo hiểm nhà nước (bảo hiểm thương mại) và những lĩnh vực khác, nên trong hầu hết các quốc gia xã hội chủ nghĩa, quan hệ ngân hàng được điều chỉnh bởi pháp luật tài chính. Dựa trên nội dung của các quy định pháp luật, các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, trong quan hệ ngân hàng, Nhà nước sử dụng pháp luật điều chỉnh theo phương pháp của luật kinh tế (phương pháp thoả thuận và phương pháp mệnh lệnh quyền uy).

Chuyển sang mô hình kinh tế thị trường, cả ở Việt Nam và các quốc gia xã hội chủ nghĩa khác, chính phủ đã thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng từ một cấp thành hai cấp. Đặc điểm quan trọng nhất của mô hình ngân hàng hai cấp là sự phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý của nhà nước và chức năng kinh doanh của hệ thống ngân hàng. Trong hệ thống ngân hàng, chỉ có ngân hàng trung ương (ngân hàng nhà nước) mới có chức năng quản lý của nhà nước đối với các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền kinh tế quốc gia. Còn các loại ngân hàng khác là các tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng mà không có chức năng quản lý của nhà nước. Ngoài ra, để phù hợp với cơ chế thị trường, loại bỏ tình trạng quản lý quá chặt chẽ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, chính phủ đã thực hiện chính sách đa sở hữu đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Điều đó đã dẫn đến sự phát triển của nhiều loại hình tổ chức kinh doanh ngân hàng thuộc nhiều hình thức sở hữu như: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã V.V..

Thực tế này đã dẫn đến hệ quả pháp lý là trong nền kinh tế thị trường, trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ có các quan hệ quản lý nhà nước mà còn xuất hiện các loại quan hệ kinh doanh ngân hàng được thiết lập theo nguyên tắc công bằng, cạnh tranh trong phạm vi pháp luật.

Thực tế trên đây cho thấy, trong nền kinh tế thị trường, phần pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng không còn chỉ là pháp luật quản lý của nhà nước.

Theo một số nhà nghiên cứu, trong hệ thống kinh tế thị trường, luật ngân hàng là một phần của hệ thống pháp luật quy định vị trí pháp lý của các ngân hàng và các tổ chức thực hiện hoạt động ngân hàng. Luật ngân hàng thường xuyên điều chỉnh và quy định các hoạt động nghề nghiệp và các giao dịch thương mại của các ngân hàng.

Một số nhà nghiên cứu khác đưa ra khái niệm ‘quy tắc về việc cho vay’. Theo quan điểm này, quy tắc về việc cho vay không chỉ áp dụng cho các mối quan hệ với ngân hàng mà còn bao gồm cả các tổ chức tài chính khác thực hiện các hoạt động ngân hàng độc lập. Do đó, theo các nhà nghiên cứu này, quy tắc ngân hàng có thể được coi là một phần của quy tắc về việc cho vay.

Các quy định về ‘luật ngân hàng’ ở Hoa Kỳ không chỉ áp dụng cho các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của ngân hàng, mà còn bao gồm các quy định pháp luật điều chỉnh việc cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động liên quan đến các dịch vụ đó.

Theo quan điểm phổ biến ở nhiều quốc gia, khái niệm ‘quy định ngân hàng’ được sử dụng để chỉ tập hợp các quy tắc pháp lý điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng thương mại, ngân hàng trung ương, các nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức hệ thống tài chính và trật tự thực hiện các dịch vụ cho khách hàng của tổ chức tín dụng.

Ở Việt Nam cũng như ở các quốc gia khác, việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng là một yêu cầu mang tính khách quan đối với nhà nước. Dựa vào hệ thống pháp luật hiện hành ở Việt Nam và quan niệm phổ biến ở các quốc gia về mô hình ngành luật ngân hàng, có thể định nghĩa luật ngân hàng như sau:

Vì vậy, giống như các lĩnh vực pháp lý khác, luật ngân hàng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.

Dựa vào tính chất của mối quan hệ xã hội được quy định bởi Luật ngân hàng và cách thức ảnh hưởng của pháp luật, Luật ngân hàng điều chỉnh hai nhóm chính: quan hệ quản lý ngân hàng của nhà nước và quan hệ tổ chức và kinh doanh ngân hàng.

Các mối quan hệ quản lý nhà nước liên quan đến ngân hàng là những mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chính phủ thực hiện hoạt động quản lý nhà nước đối với các hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế. Ví dụ: mối quan hệ cấp phép, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng, mối quan hệ thanh tra giữa Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tài chính khác.

Đối với các quan hệ quản lí nhà nước về ngân hàng, phương pháp điều chỉnh của pháp luật là yêu cầu phải tuân thủ.

Các mối quan hệ xã hội trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động kinh doanh ngân hàng của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác là các quan hệ tổ chức và kinh doanh ngân hàng.

Theo quy định của luật pháp, cấu trúc và hình thức tổ chức của các tổ chức tín dụng được quy định bởi luật pháp.

Các mối quan hệ kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng được hình thành trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác được phép hoạt động như ngân hàng được thiết lập dựa trên sự công bằng. Pháp luật ảnh hưởng đến các mối quan hệ này bằng cách đảm bảo sự công bằng và đạt được sự thỏa thuận.

Dựa vào nội dung điều chỉnh, nhóm đối tượng được điều chỉnh theo luật ngân hàng bao gồm các mối quan hệ xã hội sau:

– Mối quan hệ cấu trúc và hành động của Ngân hàng trung ương Việt Nam.

– Mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng và cách hoạt động của chúng.

– Mối quan hệ kinh doanh ngân hàng của các tổ chức không thuộc danh mục các tổ chức tín dụng nhưng được chính phủ cho phép thực hiện một số hoạt động kinh doanh ngân hàng.

3. Quy định về ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: 3. Điều luật về ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010

4. Tác dụng của Ngân hàng nhà nước.
Ngân hàng nhà nước có vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính của một quốc gia. Nhiệm vụ chính của Ngân hàng nhà nước là điều hành và quản lý chính sách tiền tệ, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra, Ngân hàng nhà nước còn có trách nhiệm giám sát và điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng thương mại, đảm bảo tính minh bạch và an toàn của hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng Trung ương Việt Nam có trách nhiệm phát hành tiền giấy, điều tiết lưu thông tiền tệ; thu hút vốn từ người dân, điều hành và mở rộng hoạt động tín dụng để tăng cường sản xuất của người dân và phát triển kinh tế quốc gia; quản lý quỹ tiền của quốc gia; quản lý ngoại tệ và thực hiện các giao dịch thanh toán với các quốc gia khác; quản lý kim dung thông qua các quy định hành chính: quy định về vàng bạc, quy định về quỹ của các doanh nghiệp và quốc gia. Tổng thể, Ngân hàng Trung ương Việt Nam thực hiện các nhiệm vụ để thực hiện chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng và chính sách ngân hàng của Chính phủ. Ngân hàng Trung ương Việt Nam tổ chức theo mô hình tại trung ương với Ngân hàng Trung ương Quốc gia. Ở mỗi khu vực, có một chi nhánh của Ngân hàng Trung ương Việt Nam. Mỗi tỉnh và thành phố cũng có một chi nhánh của Ngân hàng Trung ương Việt Nam.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cũng có thể thành lập chi nhánh tại trong và ngoài nước. Tổng Giám đốc có quyền hạn và vị trí tương đương với một Bộ trưởng. Điều này xác định rõ vị trí của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là một cơ quan thuộc Chính phủ, có nhiệm vụ quản lý tiền tệ, nguồn lưu thông quốc gia và vàng bạc. Nhiệm vụ, quyền hạn và mô hình tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam xác định rõ vị trí pháp lý của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là Ngân hàng Trung ương, đồng thời là một ngân hàng thương mại. Ngay từ khi thành lập, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã thực hiện đồng thời cả ba chức năng của cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ, chức năng của Ngân hàng Trung ương và chức năng của ngân hàng thương mại. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương là thực hiện chính sách tiền tệ, phát hành tiền và điều chỉnh lưu thông tiền tệ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai (tháng 10/1951) về ngân hàng là: ‘Nắm vững hai việc chính là phát hành giấy bạc và quản lý kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất’ [1]. Đồng thời, Ngân

5. Vị trí pháp lý của Ngân hàng Trung ương Việt Nam.

Bất kỳ rào cản pháp lý liên quan đến quy định về ngân hàng, hoạt động của ngân hàng, xin vui lòng liên hệ ngay: 1900.6162

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Tìm hiểu về Luật ngân hàng và vai trò quan trọng của nó