Trang tin kinh doanh, cơ hội mở rộng thị trường, kiến thức hữu ích cho doanh nhân

Tìm hiểu về luật thuế doanh thu và cách áp dụng

Luật thuế doanh thu là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực tài chính và kế toán. Đây là một hệ thống quy định về việc thu thuế từ các hoạt động kinh doanh và doanh thu của các tổ chức và cá nhân. Luật thuế doanh thu có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước và định hình chính sách kinh tế. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về luật thuế doanh thu, những quy định cơ bản và tầm quan trọng của nó. Hãy cùng khám phá!

Chia sẻ

1. Định nghĩa về luật thuế doanh thu

2. Đối tượng đóng thuế doanh thu
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: 2. Người phải nộp thuế doanh thu

3. Các đối tượng không phải đóng thuế trên doanh thu.

4. Phương pháp tính thuế lợi nhuận

5. Phương pháp xác định tổng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp

Theo Quy định 1 Điều 5 Thông tư 78/2014/TT-BTC, doanh số để tính thu nhập chịu thuế được xác định như sau:

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là tổng số tiền thu được từ việc bán hàng hóa, tiền thu được từ việc gia công và tiền thu được từ việc cung cấp dịch vụ, bao gồm cả Khoản trợ giá, phụ thu và phụ trội, mà doanh nghiệp đã nhận được hoặc chưa nhận được tiền.

a) Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trừ thuế là doanh thu chưa tính thuế giá trị gia tăng.

Ví dụ 4: Doanh nghiệp A là đối tượng đóng thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trừ thuế. Hóa đơn giá trị gia tăng bao gồm các mục sau:

Giá tiền: 100.000 đồng.

Thuế giá trị gia tăng (10%): 10.000 đồng.

Số tiền phải trả: 110.000 đồng.

Tổng số tiền thu nhập chịu thuế là 100.000 đồng.

b) Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng.
Đối với các công ty trả thuế giá trị gia tăng theo cách tính trực tiếp trên giá trị gia tăng, số tiền thuế này được tính vào tổng doanh thu.

Ví dụ 5: Doanh nghiệp B là đối tượng đóng thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng. Hóa đơn bán hàng chỉ ghi giá bán là 110.000 đồng (giá đã bao gồm thuế GTGT).

Tổng số tiền thu nhập chịu thuế là 110.000 đồng.

Trong trường hợp doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh dịch vụ và khách hàng trả tiền trước cho nhiều năm, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế có thể được phân bổ cho số năm trả tiền trước hoặc được xác định dựa trên doanh thu trả tiền một lần. Trong trường hợp doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế, số thuế được ưu đãi phải được xác định dựa trên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong số năm thu tiền trước chia cho số năm thu tiền trước.

Theo quy định tại Điều 3 Thông tư 96/2015/TT-BTC, thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đã được chỉnh sửa như sau:

Thông tư số 78/2014/TT-BTC có nội dung như sau:

‘2. Thời điểm xác định số tiền thu nhập chịu thuế được xác định như sau:

a) Đối với việc bán hàng hóa, thời điểm mà quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hóa được chuyển giao cho người mua.

b) Đối với việc cung cấp dịch vụ, thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ hoặc hoàn thành từng phần việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, trừ khi có trường hợp được nêu tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 78/2014/TT-BTC, Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC.

c) Đối với hoạt động vận tải hàng không là thời điểm hoàn tất việc cung cấp dịch vụ vận chuyển cho khách hàng.

d) Trường hợp khác theo quy định của luật pháp”

Theo Quy định 3 Điều 5 Thông tư 78/2014/TT-BTC, doanh số để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp được xác định như sau:

a) Đối với hàng hóa, dịch vụ bán theo hình thức trả trước, trả sau là số tiền mà khách hàng phải thanh toán một lần, không tính phí trả góp, phí trả sau.

b) Đối với hàng hóa, dịch vụ được sử dụng để trao đổi; tiêu dùng trong nội bộ (không bao gồm hàng hóa, dịch vụ được sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp) được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi; tiêu dùng trong nội bộ.

c) Đối với việc thực hiện công đoạn gia công hàng hóa, tiền thu về bao gồm cả tiền lương, chi phí về nhiên liệu, năng lượng, vật liệu phụ và các chi phí khác liên quan đến việc gia công hàng hóa.

d) Với hàng hóa của các đơn vị giao đại lý, ký gửi và nhận đại lý, ký gửi theo hợp đồng đại lý, ký gửi bán với giá đã được xác định, được hưởng hoa hồng theo tỷ lệ đã được quy định.

– Công ty vận chuyển hàng hóa cho các nhà phân phối (bao gồm cả nhà phân phối đa cấp), tiền ký gửi là tổng số tiền bán hàng hóa.

– Các công ty có thể nhận làm đại lý hoặc ký gửi hàng hóa với việc bán sản phẩm theo giá được quy định bởi doanh nghiệp. Tiền hoa hồng sẽ được trả theo hợp đồng đại lý hoặc ký gửi hàng hóa.

e) Hoạt động cho thuê tài sản được tính bằng số tiền mà bên thuê trả theo từng kỳ theo hợp đồng thuê. Trong trường hợp bên thuê trả tiền trước cho nhiều năm, doanh thu sẽ được phân bổ cho số năm trả tiền trước hoặc được xác định dựa trên doanh thu từ việc trả tiền một lần.

Công ty có thể chọn một trong hai phương pháp để tính thu nhập chịu thuế dựa trên điều kiện thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ thực tế và việc xác định chi phí.

– Số tiền thuê tài sản hàng năm được tính bằng cách chia số tiền trả trước cho số năm trả trước.

– Đó là tổng số tiền trả trước cho việc thuê tài sản trong một khoảng thời gian.

Trong trường hợp doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và lựa chọn phương pháp xác định doanh thu để tính thuế, toàn bộ số tiền thuê trước mà bên thuê phải trả cho nhiều năm sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế. Để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp từng ưu đãi thuế, ta sẽ dựa vào tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp của số năm trả tiền trước chia cho số năm bên thuê trả tiền trước.

g) Đối với hoạt động kinh doanh sân gôn là tiền bán thẻ thành viên, bán vé chơi gôn và các khoản thu khác trong kỳ tính thuế được xác định như sau:

– Đối với hình thức kinh doanh bán vé và bán thẻ chơi gôn theo ngày, doanh thu của sân gôn sẽ được sử dụng làm cơ sở để xác định thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là số tiền thu được từ việc bán vé, bán thẻ và các khoản thu khác phát sinh trong kỳ tính thuế.

– Đối với hình thức bán vé, bán thẻ hội viên loại thẻ trả trước cho nhiều năm, doanh thu được sử dụng để tính thuế thu nhập doanh nghiệp của từng năm được xác định bằng cách chia số tiền bán thẻ và các khoản thu khác thực thu được cho số năm sử dụng thẻ hoặc xác định theo doanh thu trả tiền một lần.

h) Đối với hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là thu từ lợi tức tiền gửi, thu từ lợi tức tiền cho vay, doanh thu về cho thuê tài chính phải thu phát sinh trong kỳ tính thuế được ghi nhận vào doanh thu theo quy định hiện hành về cơ chế tài chính của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

i) Đối với hoạt động vận tải là tổng số tiền thu được từ việc chuyên chở khách, hàng hóa và hành lý trong thời gian tính thuế.

k) Đối với việc cung cấp điện và nước sạch, số tiền được tính dựa trên hóa đơn giá trị gia tăng. Thời điểm xác định doanh thu để tính thuế là ngày xác nhận chỉ số công tơ điện và được ghi trên hóa đơn tính tiền điện và nước sạch.

Ví dụ 6: Hóa đơn tiền điện ghi số đếm công tơ từ ngày 5/12 đến ngày 5/1. Doanh thu của hóa đơn này được tính vào tháng 1.

l) Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, doanh thu để tính thuế là tổng số tiền thu được từ việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm và các hàng hóa, dịch vụ khác, bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm mà công ty bảo hiểm nhận được chưa tính thuế giá trị gia tăng.

– Thu nhập từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm là số tiền phải thu về phí bảo hiểm gốc; phí nhận tái bảo hiểm; hoa hồng nhận tái bảo hiểm; phí quản lý đơn bảo hiểm; phí dịch vụ đại lý bao gồm kiểm định tổn thất, giải quyết bồi thường, yêu cầu bồi hoàn từ bên thứ ba, xử lý hàng bồi thường 100% (không tính kiểm định nội bộ giữa các công ty thành viên trong cùng một công ty bảo hiểm hạch toán độc lập) sau khi đã trừ đi các khoản phải chi để giảm thu như: hoàn phí bảo hiểm; giảm phí bảo hiểm; hoàn phí nhận tái bảo hiểm; giảm phí nhận tái bảo hiểm; hoàn hoa hồng nhận tái bảo hiểm; giảm hoa hồng nhận tái bảo hiểm.

Trong trường hợp các công ty bảo hiểm tham gia vào việc đồng bảo hiểm, doanh thu được sử dụng để tính thuế thu nhập của mỗi bên là số tiền phí bảo hiểm ban đầu được phân chia theo tỷ lệ đồng bảo hiểm cho từng bên, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.

Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm được thỏa thuận trả tiền theo từng đợt, doanh thu để tính thuế là số tiền phải thu phát sinh trong mỗi đợt.

Trong trường hợp thực hiện các giao dịch thu hộ giữa các công ty con hoặc giữa công ty con và công ty mẹ, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế không bao gồm phần doanh thu thu hộ.

– Doanh thu từ việc môi giới bảo hiểm: Các khoản thu nhập từ hoa hồng môi giới bảo hiểm sau khi trừ đi các khoản giảm và hoàn trả hoa hồng môi giới bảo hiểm.

m) Đối với việc thực hiện công trình xây dựng và lắp đặt, giá trị của nó có thể được đo bằng giá trị của công trình, giá trị của các phần công trình hoặc giá trị của khối lượng công trình xây dựng và lắp đặt trong quá trình nghiệm thu.

– Trường hợp xây dựng, lắp đặt có thầu toàn bộ nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị là số tiền từ hoạt động xây dựng, lắp đặt bao gồm cả giá trị nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị.

– Trường hợp xây dựng, lắp đặt không thuê thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị là số tiền từ hoạt động xây dựng, lắp đặt không tính giá trị nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị.

n) Đối với hoạt động kinh doanh dưới hình thức hợp tác kinh doanh:
Input: viết lại đoạn này sử dụng các từ đồng nghĩa sao cho có nội dung tương đương bằng tiếng Việt
Output: Trong việc kinh doanh dưới hình thức hợp tác kinh doanh:

– Trong trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh chia sẻ kết quả kinh doanh dựa trên doanh thu từ việc bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, thì doanh thu tính thuế sẽ được tính dựa trên doanh thu của từng bên theo hợp đồng.

– Trong trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng sản phẩm, số tiền thuế được tính trên cơ sở doanh thu của sản phẩm được phân chia cho mỗi bên theo hợp đồng.

– Trong trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh chia sẻ lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh thu để tính thu nhập trước thuế là số tiền bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ theo hợp đồng. Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải chọn một người đại diện có trách nhiệm phát hóa đơn, ghi nhận doanh thu, chi phí và tính toán lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp để phân chia cho mỗi bên. Mỗi bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải tuân thủ quy định hiện hành và thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của mình.

– Trong trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh chia sẻ lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh thu để tính thuế được xác định là số tiền từ việc bán hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng. Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải chọn một người đại diện có trách nhiệm phát hóa đơn, ghi nhận doanh thu, chi phí và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho các bên còn lại tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh.

o) Với việc kinh doanh các trò chơi có thưởng (như casino, trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh có đặt cược), số tiền thu được từ hoạt động này bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt trừ đi số tiền đã trả thưởng cho khách.

p) Đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán là các Khoản thu từ dịch vụ môi giới, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, phát hành chứng chỉ quỹ, dịch vụ tổ chức thị trường và các dịch vụ chứng khoán khác theo quy định của pháp luật.
Output: Đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán là các Khoản thu từ dịch vụ trung gian, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, phát hành chứng chỉ quỹ, dịch vụ tổ chức thị trường và các dịch vụ chứng khoán khác theo quy định của pháp luật.

q) Đối với dịch vụ tài chính phái sinh là số tiền thu từ việc cung cấp các dịch vụ tài chính phái sinh thực hiện trong kỳ tính thuế.”
Output: Đối với dịch vụ tài chính phái sinh là số tiền thu từ hoạt động cung ứng các dịch vụ tài chính phái sinh thực hiện trong thời gian tính thuế.

Mục lục

Chia sẻ

Cám ơn bạn đã đặt hàng

Đơn hàng đã được đặt thành công

Chúng tôi sẽ sớm liên hệ lại bạn để xác nhận thông tin đơn hàng

Tải về Tìm hiểu về luật thuế doanh thu và cách áp dụng