Hòa giải thương mại theo Nghị định 22/2017: khi nào nên dùng, chọn hòa giải viên, giá trị của văn bản hòa giải thành
Một nhà cung cấp linh kiện và khách hàng lâu năm vướng tranh chấp về 800 triệu đồng tiền hàng bị trả chậm do chất lượng một lô hàng. Cả hai muốn giữ quan hệ làm ăn, không muốn công khai vụ việc và cũng không muốn trả phí trọng tài hay chờ đợi tố tụng. Hòa giải thương mại là công cụ được thiết kế cho tình huống như vậy: một hòa giải viên độc lập giúp hai bên tự tìm giải pháp, với quy trình do chính các bên chọn.
Hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận, có hòa giải viên thương mại làm trung gian. Điều kiện duy nhất là thỏa thuận hòa giải bằng văn bản, có thể ký trước, sau khi tranh chấp phát sinh hoặc ngay trong lúc đang kiện. Nếu hòa giải thành, văn bản kết quả có chữ ký các bên và hòa giải viên, có hiệu lực thi hành theo pháp luật dân sự và có thể được tòa án công nhận theo tố tụng dân sự.
Căn cứ pháp lý & ngày rà soát: Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 về hòa giải thương mại, hiệu lực từ 15/4/2017, đăng Công báo số 189+190 ngày 16/3/2017 (Điều 2 đến 17); Nghị định số 112/2025/NĐ-CP ngày 29/5/2025 sửa đổi các nghị định thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hiệu lực từ ngày ký, đăng Công báo số 739+740 ngày 10/6/2025 (Điều 2); Luật Thương mại số 36/2005/QH11 theo Văn bản hợp nhất số 113/VBHN-VPQH, Điều 317. Rà soát ngày 01/10/2026.
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo. Ví dụ là tình huống tự lập. Thù lao hòa giải do các bên thỏa thuận với hòa giải viên hoặc theo biểu phí của từng tổ chức hòa giải; thủ tục công nhận kết quả hòa giải tại tòa án theo Bộ luật Tố tụng dân sự cần đối chiếu nguyên văn.
Hòa giải thương mại áp dụng cho tranh chấp nào
Điều 2 Nghị định 22/2017 áp dụng cho tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp có ít nhất một bên hoạt động thương mại và tranh chấp khác mà pháp luật cho phép hòa giải thương mại. Phạm vi này gần trùng với phạm vi trọng tài thương mại, nên hai cơ chế thường đi cùng nhau trong một điều khoản nhiều tầng: thương lượng, hòa giải, rồi trọng tài.
Điều 317 Luật Thương mại xếp hòa giải bên cạnh thương lượng, trọng tài và tòa án. Điểm khác biệt là hòa giải viên không ra phán quyết; kết quả phụ thuộc vào việc các bên có đồng ý hay không.
Ba nguyên tắc nền tảng
Điều 4 đặt ba nguyên tắc. Thứ nhất, các bên tham gia hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng. Thứ hai, thông tin liên quan vụ việc được bảo mật, trừ khi các bên thỏa thuận bằng văn bản hoặc pháp luật quy định khác. Thứ ba, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ và không xâm phạm quyền của bên thứ ba.
Nguyên tắc bảo mật là lý do nhiều doanh nghiệp chọn hòa giải: các bên có thể thảo luận thẳng thắn về giá, lỗi, lợi nhuận mà không lo thông tin bị công khai. Hòa giải viên bị cấm tiết lộ thông tin vụ việc khi chưa được các bên đồng ý bằng văn bản (Điều 10).
Hai hình thức: quy chế và vụ việc
| Tiêu chí | Hòa giải quy chế | Hòa giải vụ việc |
|---|---|---|
| Nơi tiến hành | Tại tổ chức hòa giải thương mại (trung tâm hòa giải hoặc trung tâm trọng tài có hoạt động hòa giải) | Do hòa giải viên vụ việc các bên chọn |
| Quy tắc | Quy tắc hòa giải của tổ chức | Các bên tự thỏa thuận hoặc hòa giải viên đề xuất |
| Danh sách hòa giải viên | Danh sách của tổ chức | Danh sách hòa giải viên vụ việc do Sở Tư pháp công bố |
| Chỉ định | Theo Quy tắc hòa giải của tổ chức | Các bên tự chọn |
Theo Điều 14, các bên được chọn Quy tắc hòa giải của một tổ chức hoặc tự thỏa thuận trình tự. Khi không có thỏa thuận, hòa giải viên tiến hành theo trình tự phù hợp với tình tiết vụ việc, nguyện vọng các bên và được các bên chấp thuận. Tranh chấp có thể do một hoặc nhiều hòa giải viên tiến hành, và hòa giải viên được đưa ra đề xuất giải quyết tại bất kỳ thời điểm nào.
Hòa giải viên: tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ
Điều 7 yêu cầu hòa giải viên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phẩm chất đạo đức tốt, độc lập, vô tư, khách quan; trình độ đại học trở lên và ít nhất 02 năm công tác trong lĩnh vực được đào tạo; có kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật và tập quán kinh doanh. Người đang là bị can, bị cáo, đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích, người đang bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không được làm hòa giải viên. Tổ chức hòa giải có thể đặt tiêu chuẩn cao hơn.
Người muốn làm hòa giải viên vụ việc đăng ký tại Sở Tư pháp nơi thường trú. Từ Nghị định 112/2025, hồ sơ có thể nộp qua bưu chính, trực tiếp hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, với bằng đại học và giấy tờ chứng minh 02 năm công tác dưới dạng bản sao điện tử.
Điều 9 quy định hòa giải viên được hưởng thù lao theo thỏa thuận và phải thông báo cho các bên về thẩm quyền, thù lao và chi phí trước khi tiến hành hòa giải. Hòa giải viên không được đồng thời làm trọng tài viên cho cùng vụ tranh chấp đang hoặc đã hòa giải, trừ khi các bên thỏa thuận khác. Điều 10 cấm nhận thêm tiền hoặc lợi ích ngoài thù lao, chi phí đã thỏa thuận.
Quyền, nghĩa vụ của các bên và chi phí
Các bên được chọn hòa giải viên, trình tự, địa điểm, thời gian; được đồng ý hoặc từ chối hòa giải, yêu cầu tạm dừng, chấm dứt; được yêu cầu hòa giải công khai hoặc không công khai (Điều 13). Đổi lại, các bên phải trình bày đúng sự thật, cung cấp tài liệu theo đề nghị của hòa giải viên, thi hành kết quả hòa giải thành và trả thù lao, chi phí dịch vụ, trừ thỏa thuận khác.
Nghị định không đặt khung thù lao. Doanh nghiệp nên hỏi biểu phí của tổ chức hòa giải hoặc thỏa thuận bằng văn bản với hòa giải viên vụ việc trước phiên đầu tiên, gồm cả cách chia chi phí giữa hai bên.
Kết quả hòa giải thành và công nhận
Kết quả hòa giải thành là thỏa thuận giải quyết một phần hoặc toàn bộ tranh chấp. Theo Điều 15, văn bản kết quả gồm căn cứ tiến hành hòa giải, thông tin các bên, nội dung chủ yếu vụ việc, thỏa thuận đạt được và giải pháp thực hiện, có chữ ký các bên và hòa giải viên. Văn bản có hiệu lực thi hành đối với các bên theo pháp luật dân sự.
Nếu một bên không tự nguyện thực hiện, Điều 16 cho phép yêu cầu công nhận văn bản kết quả hòa giải thành theo pháp luật tố tụng dân sự. Khi không hòa giải được, các bên có thể tiếp tục hòa giải hoặc đưa tranh chấp ra trọng tài, tòa án. Thủ tục hòa giải chấm dứt khi hòa giải thành, khi hòa giải viên thấy không cần tiếp tục sau khi tham khảo các bên, hoặc theo đề nghị của một bên (Điều 17).
Thời gian hòa giải không phải là lý do để bỏ quên thời hiệu. Thời hiệu khởi kiện tranh chấp thương mại là 2 năm, phân tích tại bài trọng tài thương mại hay tòa án.
Ví dụ tự lập
Công ty Linh kiện Sao Mai và Công ty Lắp ráp Trường Thịnh có hợp đồng khung với điều khoản: tranh chấp được thương lượng trong 30 ngày, sau đó hòa giải tại một trung tâm hòa giải đã nêu tên, rồi mới đến trọng tài. Tranh chấp 800 triệu đồng phát sinh, thương lượng không thành.
Hai bên nộp yêu cầu tại trung tâm, chọn một hòa giải viên có kinh nghiệm ngành điện tử từ danh sách, và được thông báo thù lao trước. Sau hai phiên, các bên thống nhất Trường Thịnh trả 650 triệu đồng trong 60 ngày, Sao Mai đổi lại lô hàng lỗi. Văn bản hòa giải thành có chữ ký ba bên. Khi Trường Thịnh chậm trả, Sao Mai yêu cầu tòa án công nhận kết quả để có cơ sở thi hành.
Checklist
- Đưa điều khoản hòa giải vào hợp đồng (ghi tổ chức hòa giải hoặc cách chọn hòa giải viên vụ việc).
- Đặt thời hạn cho bước thương lượng, hòa giải để không kéo dài vô hạn.
- Kiểm tra hòa giải viên trong danh sách của tổ chức hoặc Sở Tư pháp.
- Yêu cầu thông báo thù lao, chi phí bằng văn bản trước phiên đầu.
- Thỏa thuận phạm vi bảo mật, gồm việc dùng tài liệu hòa giải ở trọng tài, tòa án.
- Soạn văn bản hòa giải thành đủ nội dung Điều 15, có lịch thực hiện cụ thể.
- Theo dõi thời hiệu 2 năm trong suốt quá trình hòa giải.
Câu hỏi thường gặp
Có thể hòa giải khi vụ việc đã nộp ra tòa hoặc trọng tài không?
Có. Điều 6 cho phép các bên thỏa thuận hòa giải trước, sau khi tranh chấp phát sinh hoặc tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết tranh chấp.
Thỏa thuận hòa giải có cần lập văn bản không?
Có. Điều 11 yêu cầu thỏa thuận hòa giải lập bằng văn bản, dưới dạng điều khoản trong hợp đồng hoặc thỏa thuận riêng.
Văn bản hòa giải thành có bắt buộc thi hành không?
Văn bản có hiệu lực thi hành đối với các bên theo pháp luật dân sự (Điều 15). Để có cơ sở cưỡng chế, bên có quyền có thể yêu cầu tòa án công nhận theo pháp luật tố tụng dân sự (Điều 16).
Hòa giải viên có thể làm trọng tài viên cho cùng vụ việc không?
Không, trừ khi các bên có thỏa thuận khác (Điều 9 Nghị định 22/2017).
Ai trả chi phí hòa giải?
Các bên trả thù lao và chi phí dịch vụ hòa giải thương mại, trừ khi có thỏa thuận khác (Điều 13). Mức thù lao theo thỏa thuận hoặc biểu phí của tổ chức hòa giải.
Hòa giải không thành thì làm gì tiếp?
Các bên có quyền tiếp tục hòa giải hoặc yêu cầu trọng tài, tòa án giải quyết (khoản 4 Điều 15). Nếu hợp đồng có điều khoản trọng tài, tranh chấp đi tiếp theo điều khoản đó.
