Nhãn hàng hóa và nhãn phụ hàng nhập khẩu 2026: quy định mới tại Nghị định 37/2026 thay Nghị định 43/2017
Một công ty nhập khẩu đồ gia dụng từ Hàn Quốc vừa đặt in 50.000 tem nhãn phụ theo mẫu dùng từ năm 2022. Bộ phận pháp chế nhắc rằng văn bản làm căn cứ cho mẫu nhãn đó đã hết hiệu lực từ đầu năm. Câu hỏi đặt ra là kho tem còn dùng được bao lâu, và mẫu nhãn mới cần sửa những gì. Từ ngày 23/01/2026, quy định về nhãn hàng hóa nằm tại Chương IV Nghị định 37/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi.
Nghị định 43/2017/NĐ-CP và Nghị định 111/2021/NĐ-CP về nhãn hàng hóa hết hiệu lực từ 23/01/2026. Nhãn hàng hóa lưu thông tại Việt Nam vẫn phải có tên hàng, tên và địa chỉ tổ chức chịu trách nhiệm, xuất xứ bằng tiếng Việt. Nhãn gốc hàng nhập khẩu phải là nhãn vật lý khi thông quan; nhãn phụ tiếng Việt được phép thể hiện bằng nhãn điện tử nếu giữ nguyên nhãn gốc. Nhãn, bao bì đã in đúng quy định cũ được dùng tiếp không quá 02 năm.
Căn cứ pháp lý & ngày rà soát: Nghị định số 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, hiệu lực từ ngày ký, đăng Công báo số 93 ngày 09/02/2026 (Điều 3, 39 đến 47, 52, 53, 97, 98); Luật số 78/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, đăng Công báo số 969+970 ngày 24/7/2025, hiệu lực từ 01/01/2026 (Điều 5); Nghị quyết số 39/2026/NQ-CP ngày 25/8/2026, hiệu lực từ ngày ký, đăng Công báo số 503 ngày 09/9/2026. Rà soát ngày 01/10/2026.
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo. Ví dụ là tình huống tự lập. Nội dung bắt buộc theo từng nhóm hàng nằm ở Phụ lục I Nghị định 37/2026 và pháp luật chuyên ngành (thực phẩm, dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế), không được liệt kê đầy đủ.
Văn bản nào đang điều chỉnh nhãn hàng hóa
Điểm b, c khoản 4 Điều 97 Nghị định 37/2026 chấm dứt hiệu lực Nghị định 43/2017 về nhãn hàng hóa và Nghị định 111/2021 sửa đổi Nghị định 43 kể từ ngày Nghị định 37 có hiệu lực, tức ngày ký 23/01/2026. Các quy tắc ghi nhãn, nhãn phụ, xuất xứ, ngày sản xuất, hạn sử dụng nay nằm ở Chương IV Nghị định 37. Nhiều nguyên tắc cũ được giữ lại, nhưng có thêm khái niệm nhãn vật lý, nhãn điện tử, vật mang dữ liệu và nghĩa vụ của người bán trên nền tảng thương mại điện tử.
Luật số 78/2025/QH15 cũng thay cách phân loại hàng hóa: từ 01/01/2026, Điều 5 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi chia sản phẩm thành mức độ rủi ro thấp, trung bình và cao, thay cho cách gọi hàng hóa nhóm 1, nhóm 2. Khoản 3 Điều 97 Nghị định 37 cho phép phân loại theo nhóm 1, nhóm 2 đến hết 30/6/2026. Mức độ rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến cách dùng nhãn điện tử.
Nội dung bắt buộc trên nhãn
| Loại nhãn | Nội dung bắt buộc | Căn cứ |
|---|---|---|
| Hàng lưu thông tại Việt Nam | Bằng tiếng Việt: tên hàng hóa; tên và địa chỉ tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm; xuất xứ; nội dung khác theo Phụ lục I | Khoản 1 Điều 42 |
| Nhãn gốc hàng nhập khẩu khi thông quan | Nhãn vật lý, bằng tiếng nước ngoài hoặc tiếng Việt: tên hàng hóa; xuất xứ; tên đầy đủ hoặc viết tắt và địa chỉ nhà sản xuất hoặc tổ chức chịu trách nhiệm ở nước ngoài | Khoản 2 Điều 42 |
| Hàng xuất khẩu | Theo pháp luật nước nhập khẩu, hợp đồng, điều ước quốc tế | Khoản 3 Điều 42 |
| Hàng xuất khẩu bị trả lại đưa ra lưu thông | Ghi nhãn như hàng nội địa hoặc ghi nhãn phụ như hàng nhập khẩu | Khoản 4 Điều 42 |
Nếu nhãn gốc chưa có tên đầy đủ và địa chỉ nhà sản xuất nước ngoài, các thông tin này phải có trong tài liệu kèm theo hoặc chứng từ lô hàng. Sau thông quan, nhà nhập khẩu phải bổ sung nhãn tiếng Việt trước khi đưa hàng vào lưu thông. Theo khoản 9 Điều 3, việc vận chuyển hàng nhập khẩu từ cửa khẩu về kho lưu giữ đầu tiên và lưu giữ tại kho đó không được tính là lưu thông, nên doanh nghiệp có thể dán nhãn phụ tại kho.
Nhãn phụ: dán ở đâu, ghi gì, khi nào được miễn
Khoản 3 Điều 39 yêu cầu hàng nhập khẩu chưa có hoặc chưa đủ nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt phải có nhãn phụ và giữ nguyên nhãn gốc. Điều 40 quy định nhãn phụ gắn trên hàng hóa hoặc bao bì thương phẩm, không che khuất nội dung bắt buộc của nhãn gốc. Nội dung nhãn phụ là bản dịch tiếng Việt các nội dung bắt buộc trên nhãn gốc, cộng với nội dung bắt buộc còn thiếu. Tổ chức ghi nhãn chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung.
Điểm mới đáng chú ý là nhãn phụ có thể thể hiện bằng nhãn điện tử, với điều kiện giữ nguyên nhãn gốc và có chỉ dẫn rõ để người tiêu dùng nhận biết. Khoản 4 Điều 40 miễn nhãn phụ cho bốn nhóm: linh kiện thay thế trong dịch vụ bảo hành không bán ra thị trường; nguyên liệu, phụ gia, linh kiện nhập để sản xuất không bán ra; hàng mẫu thử nghiệm, chứng nhận, trưng bày hội chợ, triển lãm; thiết bị hỗ trợ máy móc sản xuất không đưa ra thị trường.
Về ngôn ngữ, khoản 4 Điều 39 cho phép giữ chữ La tinh với tên khoa học khi không có tên tiếng Việt, công thức hóa học, thành phần thuốc, thành phần không dịch được, tên và địa chỉ doanh nghiệp nước ngoài. Tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất trên nhãn lưu thông tại Việt Nam không được viết tắt.
Tên, địa chỉ và xuất xứ trên nhãn hàng nhập khẩu
Khoản 2 Điều 44 yêu cầu hàng nhập khẩu để lưu thông tại Việt Nam ghi tên và địa chỉ tổ chức sản xuất, đồng thời ghi tên và địa chỉ tổ chức nhập khẩu. Hàng cùng thương hiệu sản xuất tại nhiều nhà máy có thể ghi tên chủ sở hữu thương hiệu hoặc hiện diện thương mại của chủ thương hiệu tại Việt Nam nếu được cho phép và bảo đảm truy xuất được nhà máy. Trang thiết bị y tế có quy tắc riêng về chủ sở hữu số lưu hành.
Điều 47 yêu cầu doanh nghiệp tự xác định và ghi xuất xứ trung thực, chính xác bằng một trong các cụm từ "sản xuất tại", "chế tạo tại", "nước sản xuất", "xuất xứ", "sản xuất bởi", "sản phẩm của" hoặc "Made in", "Product of" kèm tên nước. Nếu không xác định được xuất xứ, ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng: "lắp ráp tại", "đóng chai tại", "phối trộn tại", "hoàn tất tại", "đóng gói tại", "dán nhãn tại". Cách xác định xuất xứ ưu đãi để hưởng thuế FTA là vấn đề khác, xem bài quy tắc xuất xứ FTA. Với hàng lắp ráp từ linh kiện nhập khẩu, tỷ trọng nguyên liệu theo nước xuất xứ còn là tiêu chí trong điều tra chống lẩn tránh, xem bài phòng vệ thương mại theo Nghị định 86/2025.
Nhãn điện tử và nghĩa vụ bán hàng trực tuyến
Theo Điều 52, doanh nghiệp được dùng nhãn điện tử thể hiện một phần hoặc toàn bộ nội dung bắt buộc, trừ nhãn gốc hàng nhập khẩu khi thông quan và trường hợp pháp luật chuyên ngành bắt buộc nhãn vật lý. Nhãn điện tử được tạo bằng cách kê khai trên hệ thống nhãn điện tử quốc gia hoặc tự kê khai nhưng phải kết nối, đồng bộ với Cơ sở dữ liệu nhãn điện tử quốc gia.
Điều 53 phân biệt theo mức rủi ro. Hàng rủi ro thấp có thể đưa toàn bộ nội dung bắt buộc lên nhãn điện tử. Hàng rủi ro trung bình và cao vẫn phải có trên nhãn vật lý: tên hàng, tên và địa chỉ tổ chức chịu trách nhiệm, xuất xứ, thông tin cảnh báo. Nội dung nhãn điện tử phải lưu tối thiểu 12 tháng kể từ khi sản phẩm hết hạn sử dụng.
Khoản 5 Điều 41 yêu cầu người bán trên nền tảng thương mại điện tử công khai toàn bộ nội dung nhãn, trừ thông tin riêng từng sản phẩm như ngày sản xuất, hạn sử dụng, số lô, và bảo đảm hàng giao tới người mua có nhãn đúng quy định. Chủ nền tảng phải lưu dữ liệu nhãn hàng hóa và hồ sơ liên quan tối thiểu 05 năm.
Chuyển tiếp: nhãn cũ, đổi địa chỉ, đổi tên
| Tình huống | Quy định | Căn cứ |
|---|---|---|
| Hàng có nhãn đúng quy định cũ đã sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trước 23/01/2026 | Lưu thông đến hết hạn sử dụng ghi trên nhãn | Khoản 3 Điều 98 Nghị định 37 |
| Nhãn, bao bì in đúng quy định cũ trước 23/01/2026 | Dùng tiếp không quá 02 năm từ 23/01/2026 | Khoản 4 Điều 98 Nghị định 37 |
| Địa chỉ đổi do điều chỉnh địa giới hành chính | Dùng nhãn in theo địa chỉ cũ không quá 02 năm từ ngày quyết định điều chỉnh có hiệu lực, không gây nhầm lẫn, bảo đảm truy xuất | Khoản 5 Điều 98 Nghị định 37 |
| Doanh nghiệp đổi tên, không đổi pháp nhân, mã số doanh nghiệp | Dùng nhãn tên cũ đã in trước ngày cấp đăng ký tên mới, cho hàng tồn tại thời điểm đó, trong 12 tháng | Nghị quyết 39/2026/NQ-CP |
Nghị quyết 39/2026 kèm điều kiện: lưu hồ sơ chứng minh thời điểm in, số lượng tồn và sự kế thừa pháp nhân; bảo đảm truy xuất nguồn gốc; không gây nhầm lẫn; thông tin tên mới tra cứu được công khai. Cơ chế này không áp dụng cho nhãn đặt in sau ngày cấp đăng ký tên mới.
Ví dụ tự lập
Công ty Gia Dụng Minh Khang nhập nồi chiên không dầu từ Hàn Quốc. Nhãn gốc in tiếng Hàn và tiếng Anh, có tên sản phẩm, "Made in Korea" và tên nhà sản xuất, nên đáp ứng khoản 2 Điều 42 khi thông quan. Hàng về kho tại Bắc Ninh, công ty dán nhãn phụ tiếng Việt ghi tên hàng, tên và địa chỉ nhà sản xuất, tên và địa chỉ Minh Khang, xuất xứ "Hàn Quốc", thông số kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo, không che phần nhãn gốc.
Kho tem in năm 2025 theo mẫu cũ, đúng quy định khi in, được dùng đến hết 22/01/2028 theo khoản 4 Điều 98. Khi thiết kế mẫu mới, công ty cân nhắc thêm mã QR dẫn tới nhãn điện tử để chứa hướng dẫn sử dụng dài, nhưng giữ trên nhãn vật lý các nội dung Điều 53 yêu cầu nếu sản phẩm thuộc mức rủi ro trung bình. Hồ sơ thông quan làm theo bài quy trình hải quan nhập khẩu; trách nhiệm thông tin với người mua xem bài Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Checklist
- Thay căn cứ "Nghị định 43/2017" trong quy trình, mẫu nhãn bằng Nghị định 37/2026.
- Kiểm tra nhãn gốc hàng nhập có tên hàng, xuất xứ, tên nhà sản xuất trước khi hàng cập cảng.
- Chuẩn bị nhãn phụ đủ nội dung khoản 1 Điều 42 và Phụ lục I, dán trước khi đưa hàng ra lưu thông.
- Ghi đủ tên, địa chỉ nhà sản xuất và nhà nhập khẩu.
- Không viết tắt tên nước sản xuất trên nhãn tiếng Việt.
- Xác định mức rủi ro sản phẩm trước khi chuyển nội dung sang nhãn điện tử.
- Thống kê tồn kho nhãn in theo quy định cũ, lên lịch dùng hết trước 23/01/2028.
- Với gian hàng trực tuyến, đăng đủ nội dung nhãn lên trang sản phẩm.
Câu hỏi thường gặp
Nghị định 43/2017 về nhãn hàng hóa còn hiệu lực không?
Không. Nghị định 43/2017 và Nghị định 111/2021 hết hiệu lực từ 23/01/2026 theo điểm b, c khoản 4 Điều 97 Nghị định 37/2026. Quy định ghi nhãn nay nằm ở Chương IV Nghị định 37/2026.
Hàng nhập khẩu có phải dán nhãn tiếng Việt trước khi thông quan không?
Khi thông quan, nhãn gốc là nhãn vật lý bằng tiếng nước ngoài hoặc tiếng Việt với tên hàng, xuất xứ, tên nhà sản xuất là đủ. Nhà nhập khẩu bổ sung nhãn tiếng Việt trước khi đưa hàng vào lưu thông (khoản 2 Điều 42).
Nhãn phụ có được thay bằng mã QR không?
Được, nhãn phụ có thể thể hiện bằng nhãn điện tử nếu giữ nguyên nhãn gốc và chỉ dẫn rõ cho người tiêu dùng (khoản 2 Điều 40). Với hàng rủi ro trung bình, cao, một số nội dung vẫn phải có trên nhãn vật lý theo khoản 2 Điều 53.
Nguyên liệu nhập về để sản xuất có cần nhãn phụ không?
Không, nếu nguyên liệu, phụ gia, linh kiện nhập về để sản xuất và không bán ra thị trường (điểm b khoản 4 Điều 40).
Tem nhãn in theo mẫu cũ còn dùng được bao lâu?
Nhãn, bao bì in đúng quy định Nghị định 43/2017 và 111/2021 trước 23/01/2026 được dùng tiếp không quá 02 năm kể từ ngày đó (khoản 4 Điều 98 Nghị định 37/2026).
Doanh nghiệp đổi tên có phải in lại toàn bộ nhãn ngay không?
Theo Nghị quyết 39/2026/NQ-CP, nếu không đổi pháp nhân và mã số doanh nghiệp, doanh nghiệp được dùng nhãn tên cũ đã in trước ngày cấp đăng ký tên mới cho hàng tồn trong 12 tháng, kèm điều kiện lưu hồ sơ và bảo đảm truy xuất.
