Quyết toán thuế TNCN năm 2026: điểm mới khi luật mới áp dụng cả năm
Quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2026, nộp vào đầu năm 2027, là kỳ đầu tiên tính cả 12 tháng theo Luật Thuế TNCN 109/2025/QH15. Biểu thuế 5 bậc, giảm trừ gia cảnh 15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc áp dụng ngược lại từ tháng 1/2026, dù luật và Nghị định 253/2026/NĐ-CP chỉ có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Hệ quả thực tế: số thuế đã khấu trừ theo cách cũ trong nửa đầu năm phải được đối chiếu lại; nếu số đã khấu trừ cao hơn số tính lại theo luật mới, người lao động có tiền thuế nộp thừa để hoàn hoặc bù trừ. Một điểm mới khác là khoản trừ chi y tế, giáo dục: người muốn hưởng khoản trừ này phải tự quyết toán, không ủy quyền cho doanh nghiệp.
Căn cứ pháp lý & ngày rà soát: Luật Thuế TNCN 109/2025/QH15 (Điều 9, 10, 11, 29); Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 (Điều 49, 50, 51, 68, 69, 70), Công báo số 402 ngày 16/7/2026; Nghị định 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 hướng dẫn Luật Quản lý thuế (khoản 5 Điều 10), Công báo số 401. Rà soát ngày 01/10/2026.
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế hướng dẫn của cơ quan thuế. Mẫu tờ khai, cách nộp trên hệ thống và thủ tục hoàn thuế thực hiện theo văn bản hướng dẫn quản lý thuế của Bộ Tài chính.
Vì sao quyết toán 2026 khác các năm trước
Nửa đầu năm 2026, nhiều doanh nghiệp vẫn khấu trừ thuế theo biểu và mức giảm trừ của luật cũ. Từ tháng 7, việc khấu trừ chuyển sang luật mới. Khi quyết toán, toàn bộ thu nhập năm 2026 được tính lại theo Điều 9 và Điều 10 Luật 109.
Khoản 2 Điều 70 Nghị định 253 quy định: các trường hợp đã kê khai, nộp thuế từ tiền lương, tiền công cho kỳ tính thuế 2026 trong thời gian từ 01/01/2026 đến trước 01/7/2026 theo quy định cũ không phải nộp lại hồ sơ khai thuế tháng, quý mà điều chỉnh vào hồ sơ quyết toán năm 2026. Doanh nghiệp không cần khai bổ sung từng tháng, chỉ cần tổng hợp đúng số đã khấu trừ.
Biểu thuế năm dùng khi quyết toán
| Bậc | Thu nhập tính thuế/năm | Thuế suất |
|---|---|---|
| 1 | Đến 120 triệu đồng | 5% |
| 2 | Trên 120 đến 360 triệu đồng | 10% |
| 3 | Trên 360 đến 720 triệu đồng | 20% |
| 4 | Trên 720 đến 1.200 triệu đồng | 30% |
| 5 | Trên 1.200 triệu đồng | 35% |
Giảm trừ cả năm: 186 triệu đồng cho người nộp thuế, 74,4 triệu đồng cho mỗi người phụ thuộc tính đủ 12 tháng.
Ví dụ. Anh Hùng có tổng thu nhập chịu thuế năm 2026 là 480 triệu đồng, bảo hiểm bắt buộc 42 triệu đồng, 1 người phụ thuộc cả năm.
Thu nhập tính thuế = 480 − 42 − 186 − 74,4 = 177,6 triệu đồng.
Thuế năm = 120 × 5% + 57,6 × 10% = 6 + 5,76 = 11,76 triệu đồng.
Nếu doanh nghiệp đã khấu trừ trong năm 15 triệu đồng, anh Hùng nộp thừa 3,24 triệu đồng và được hoàn hoặc bù trừ.
Ai không phải quyết toán
Khoản 1 Điều 51 Nghị định 253 liệt kê hai trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương không phải quyết toán:
| Trường hợp | Điều kiện |
|---|---|
| Thuế phải nộp nhỏ hơn số đã nộp | Không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ sau |
| Có thu nhập vãng lai ở nơi khác | Bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng và đã được khấu trừ 10%; không phải quyết toán đối với phần thu nhập này |
Người có số thuế nộp thừa mà muốn lấy lại tiền vẫn phải quyết toán và đề nghị hoàn. Cá nhân chọn quyết toán trực tiếp với cơ quan thuế được hệ thống thông tin quản lý thuế hỗ trợ tổng hợp các nguồn thu nhập từ tiền lương trong năm và số thuế đã khấu trừ.
Khi nào được ủy quyền cho doanh nghiệp
Khoản 2 Điều 51 cho phép người lao động ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thay, kể cả khi không làm đủ 12 tháng, trong hai trường hợp:
- Chỉ có một nguồn thu nhập từ tiền lương theo hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một tổ chức và đang thực tế làm việc tại đó vào thời điểm quyết toán. Người được điều chuyển do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình hoặc giữa các tổ chức trong cùng hệ thống vẫn được tính là một nguồn.
- Có một nguồn lương như trên và thêm thu nhập vãng lai bình quân tháng không quá 15 triệu đồng đã được khấu trừ 10%.
Người có hai nguồn lương từ hai hợp đồng từ 3 tháng trở lên phải tự quyết toán.
Muốn trừ chi y tế, giáo dục thì phải tự quyết toán
Khoản 3 Điều 51 quy định: nếu trong năm cá nhân đề nghị giảm thuế do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo (Điều 40) hoặc có khoản giảm trừ theo Điều 49 mà muốn trừ trước khi tính thuế, người nộp thuế phải tự quyết toán. Doanh nghiệp không quyết toán thay các khoản này.
| Khoản giảm trừ theo Điều 49 Nghị định 253 | Mức tối đa | Chứng từ |
|---|---|---|
| Đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học vào tổ chức, quỹ được phép | Theo số thực đóng | Chứng từ thu của tổ chức, quỹ hoặc chứng từ chuyển khoản |
| Chi khám, chữa bệnh trong nước thuộc danh mục bảo hiểm y tế chi trả | 23 triệu đồng/năm | Hóa đơn, chứng từ và bảng kê chi phí khám chữa bệnh |
| Học phí và kỹ năng chuyên môn tại cơ sở giáo dục trong nước | 24 triệu đồng/năm | Hóa đơn, chứng từ ghi tên người nộp thuế hoặc người phụ thuộc |
Các khoản chi không được trả từ nguồn khác như bảo hiểm, tài trợ, ngân sách. Khoản phát sinh năm nào trừ năm đó. Nếu đã quyết toán mà sau đó mới có hóa đơn, việc điều chỉnh thực hiện theo pháp luật quản lý thuế (khoản 5 Điều 49).
Hạn nộp hồ sơ quyết toán năm 2026
Khoản 5 Điều 10 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định hạn nộp hồ sơ quyết toán:
| Người nộp | Hạn nộp | Mốc cho kỳ 2026 |
|---|---|---|
| Tổ chức trả thu nhập | Ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ khi kết thúc năm | 31/3/2027 |
| Cá nhân trực tiếp quyết toán thu nhập từ tiền lương | Ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ khi kết thúc năm dương lịch | 30/4/2027 |
| Người nước ngoài kết thúc hợp đồng | Trước khi xuất cảnh, không quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc hợp đồng | Theo từng trường hợp |
Ngày 30/4/2027 trùng ngày nghỉ lễ, nên cá nhân nên nộp sớm để tránh dồn hồ sơ. Doanh nghiệp nên thu giấy ủy quyền của người lao động trước Tết Nguyên đán để kịp tổng hợp.
Hoàn thuế nộp thừa
Điều 68 Nghị định 253 cho phép hoàn thuế khi số đã nộp lớn hơn số phải nộp, khi đã nộp nhưng thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp, hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Với quyết toán 2026, kế toán cần so tổng số đã khấu trừ trong cả năm với số tính lại theo Luật 109 để xác định chênh lệch. Người lao động có thể đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ sau.
Việc doanh nghiệp cần làm từ quý IV/2026
- Đối chiếu số thuế đã khấu trừ từng tháng của năm 2026 với chứng từ nộp ngân sách.
- Rà lại hồ sơ người phụ thuộc, đặc biệt người đăng ký trong năm 2026.
- Lập danh sách người đủ điều kiện ủy quyền theo khoản 2 Điều 51.
- Thông báo cho người lao động có chi y tế, giáo dục, từ thiện rằng họ phải tự quyết toán nếu muốn trừ.
- Cấp chứng từ khấu trừ thuế cho người nghỉ việc trong năm.
- Lập hồ sơ quyết toán năm, nộp chậm nhất 31/3/2027.
Thay đổi chi tiết của luật có tại bài Luật Thuế TNCN 2025: 10 thay đổi. Lịch các mốc thuế cuối năm xem bài lịch nộp thuế quý IV/2026.
Câu hỏi thường gặp
Quyết toán thuế TNCN năm 2026 có tính theo luật mới cho cả năm không?
Có. Quy định về thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú theo Luật 109/2025/QH15 và Nghị định 253/2026 áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026, nên quyết toán tính cả 12 tháng theo biểu 5 bậc và mức giảm trừ mới.
Doanh nghiệp có phải khai bổ sung các tháng đầu năm 2026 không?
Không. Khoản 2 Điều 70 Nghị định 253/2026 cho phép điều chỉnh vào hồ sơ quyết toán năm 2026, không phải nộp lại hồ sơ khai thuế tháng, quý của giai đoạn trước 01/7/2026.
Có thu nhập vãng lai 10 triệu đồng/tháng thì có được ủy quyền quyết toán không?
Được, nếu có một nguồn lương chính theo hợp đồng từ 3 tháng trở lên tại nơi đang làm việc và khoản vãng lai bình quân tháng không quá 15 triệu đồng đã được khấu trừ 10%.
Muốn trừ học phí của con thì có ủy quyền cho công ty được không?
Không. Khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026 quy định người có khoản giảm trừ theo Điều 49 muốn trừ trước khi tính thuế phải tự quyết toán với cơ quan thuế.
Hạn cuối cá nhân tự quyết toán thuế TNCN năm 2026 là ngày nào?
Chậm nhất ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ khi kết thúc năm dương lịch, tức ngày 30/4/2027. Ngày này trùng nghỉ lễ nên nên nộp sớm.
Người nộp thừa thuế có bắt buộc quyết toán không?
Không bắt buộc nếu không đề nghị hoàn hoặc bù trừ. Người muốn lấy lại số nộp thừa phải quyết toán và đề nghị hoàn thuế theo Điều 68 Nghị định 253/2026.
