Nghị định 328/2026 về tin giả từ 05/10/2026: doanh nghiệp bị bôi nhọ trên mạng yêu cầu xác minh, gắn nhãn, gỡ bỏ thế nào
Một bài đăng sai sự thật về sản phẩm có thể lan đến hàng triệu người trong một buổi tối và kéo theo làn sóng hủy đơn. Trước đây, doanh nghiệp chủ yếu phải tự đính chính hoặc kiện ra tòa. Từ 05/10/2026, Nghị định 328/2026/NĐ-CP có thêm một con đường hành chính: yêu cầu cơ quan nhà nước kiểm chứng, gắn nhãn tin giả và buộc nền tảng gỡ bỏ.
Nghị định 328/2026 lập quy trình 6 bước xử lý tin giả, tin sai sự thật, từ phát hiện, kiểm chứng đến gắn nhãn, công bố, gỡ bỏ và xử lý. Tổ chức bị ảnh hưởng được yêu cầu kiểm chứng và báo tin qua VNeID, đường dây nóng, cổng thông tin của bộ ngành. Cơ quan kiểm chứng phải gắn nhãn trong 24 giờ sau khi kết luận; nền tảng mạng xã hội, xuyên biên giới phải ngăn chặn, gỡ bỏ.
Căn cứ pháp lý & ngày rà soát: Nghị định số 328/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật, đăng Công báo số 497 ngày 03/9/2026, hiệu lực từ 05/10/2026 (Điều 2, 3, 4, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 21, 22, 23). Rà soát ngày 01/10/2026.
Lưu ý: Nội dung mang tính tham khảo. Nghị định không quy định thời hạn kiểm chứng cụ thể; mốc 24 giờ áp dụng cho việc gắn nhãn sau khi có kết luận. Trách nhiệm cụ thể của Bộ Công an (Điều 17) và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Điều 18) không phân tích chi tiết ở đây. Chế tài hành chính, hình sự và bồi thường dân sự theo các luật liên quan.
Phạm vi và đối tượng
Điều 2 áp dụng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức nước ngoài; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, viễn thông, mạng xã hội và thông tin xuyên biên giới hoạt động tại Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho người dùng Việt Nam. Điều 3 định nghĩa tin giả, tin sai sự thật rộng, gồm thông tin giả mạo, bịa đặt, xuyên tạc, vu khống.
Khoản 5 Điều 5 loại trừ khỏi quy trình các thông tin đang trong quá trình điều tra, xét xử, đã có kết luận, hoặc được xử lý theo pháp luật khác. Tranh chấp đã khởi kiện ra tòa vì vậy có thể không được xử lý song song qua kênh này.
Phân loại tin giả
| Tiêu chí | Loại | Ví dụ với doanh nghiệp |
|---|---|---|
| Độ nguy hại (khoản 1 Điều 4) | Đặc biệt nghiêm trọng: tác động quy mô lớn tới an ninh, trật tự, gây khủng hoảng truyền thông, hoang mang sâu sắc | Tin đồn ngân hàng mất thanh khoản gây rút tiền hàng loạt |
| Độ nguy hại | Nguy hại: phạm vi hẹp, xâm hại trực tiếp uy tín, quyền lợi của tổ chức, cá nhân cụ thể | Bài đăng bịa đặt sản phẩm của công ty chứa chất cấm |
| Tiếp cận thông tin (khoản 2 Điều 4) | Chứa thông tin công dân không được tiếp cận / được tiếp cận có điều kiện / được tiếp cận | Quyết định cách gắn nhãn và công bố |
Thông tin loại đặc biệt nghiêm trọng được ưu tiên kiểm chứng (điểm a khoản 2 Điều 9).
Quy trình 6 bước theo Điều 8
| Bước | Nội dung | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1. Phát hiện | Qua phản ánh, tố giác; giám sát của cơ quan; rà soát của nền tảng; chuyển từ bộ, UBND; yêu cầu của nạn nhân, tổ chức bị ảnh hưởng | Doanh nghiệp chủ động kích hoạt quy trình |
| 2. Kiểm chứng, xác minh | Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp theo lĩnh vực; Bộ Công an hỗ trợ xác định danh tính | Cổng thông tin hiển thị "Đang xử lý", rồi "Đã hoàn thành xử lý" |
| 3. Gắn nhãn | Dòng chữ "TIN GIẢ, TIN SAI SỰ THẬT", ký hiệu hoặc biểu tượng | Trong 24 giờ sau khi có kết luận |
| 4. Công bố, cảnh báo | Tuân thủ pháp luật tiếp cận thông tin | Có thể công bố danh tính người phát tán |
| 5. Ngăn chặn, gỡ bỏ | Nền tảng ngăn chặn, gỡ bỏ, rà soát thông tin tương tự | Theo Điều 10, 12 |
| 6. Xử lý | Hành chính hoặc chuyển cơ quan tố tụng nếu có dấu hiệu tội phạm | Theo pháp luật liên quan |
Kết luận kiểm chứng có ba khả năng: là tin giả, tin sai sự thật; không phải tin giả; hoặc không có điều kiện xác thực. Trường hợp không có điều kiện xác thực, cơ quan không công bố nhưng có thể cảnh báo để người dùng thận trọng (khoản 2 Điều 11).
Gắn nhãn và trách nhiệm của nền tảng
Điều 10 yêu cầu gắn nhãn trong 24 giờ kể từ khi cơ quan kiểm chứng kết luận. Sau đó, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu doanh nghiệp Internet, viễn thông, mạng xã hội và nền tảng xuyên biên giới rà soát các thông tin tương tự trên nền tảng để ngăn chặn, gỡ bỏ, cảnh báo. Tin giả do trí tuệ nhân tạo tạo ra chưa được gắn nhãn cũng thuộc diện phải gắn nhãn.
Khoản 2 Điều 22 yêu cầu các nền tảng tổ chức biện pháp phát hiện, gỡ bỏ, cơ chế để người dùng báo cáo và duy trì đầu mối liên lạc 24/7 với Bộ Công an. Nhãn được gỡ khi có kết luận gắn nhãn sai hoặc thông tin không còn là tin giả.
Với thông tin sai về sản phẩm trên sàn thương mại điện tử, doanh nghiệp còn có thể dùng kênh khiếu nại của sàn theo trách nhiệm sàn TMĐT với hàng giả.
Kênh báo tin cho doanh nghiệp
| Kênh (khoản 2 Điều 13) | Khi nào nên dùng |
|---|---|
| Ứng dụng VNeID | Báo nhanh, có định danh |
| Đường dây nóng | Tin lan nhanh, cần xử lý gấp |
| Cổng thông tin điện tử của bộ, ngành quản lý lĩnh vực | Tin về sản phẩm chuyên ngành như thực phẩm, dược phẩm, tài chính |
| Liên hệ trực tiếp, văn bản | Hồ sơ đầy đủ, kèm bằng chứng |
Khoản 3 Điều 14 yêu cầu người khiếu nại, tố cáo cung cấp tài liệu làm căn cứ kiểm chứng khi được yêu cầu. Khoản 5 Điều 13 cảnh báo việc lợi dụng báo tin để thực hiện hành vi bị cấm sẽ bị xử lý, nên doanh nghiệp không nên dùng kênh này để gỡ phản ánh tiêu cực có thật của khách hàng.
Điều 21 giao các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các cấp hỗ trợ pháp lý cho tổ chức bị ảnh hưởng để bảo vệ danh dự, uy tín và quyền lợi hợp pháp.
Nghĩa vụ của doanh nghiệp
Khoản 1 Điều 22 yêu cầu tổ chức, cá nhân tuân thủ pháp luật về phòng, chống tin giả; phối hợp, cung cấp thông tin cho Bộ Công an và cơ quan có thẩm quyền; tố giác tin giả. Doanh nghiệp làm truyền thông, quảng cáo cũng phải tránh tự tạo nội dung sai sự thật về đối thủ, vì người phát tán, chia sẻ, bình luận đều có thể bị xác định danh tính và xử lý (điểm b khoản 2 Điều 9).
Quy trình nội bộ nên có
- Theo dõi mạng xã hội để phát hiện sớm thông tin sai về thương hiệu.
- Lưu bằng chứng: ảnh chụp, đường dẫn, thời gian đăng, lượt chia sẻ.
- Chuẩn bị tài liệu chứng minh như kết quả kiểm nghiệm, hóa đơn, giấy chứng nhận; với hàng có mã UID, dữ liệu truy xuất theo Nghị định 372/2026 là bằng chứng mạnh.
- Báo tin qua VNeID hoặc cổng thông tin của bộ quản lý ngành, đồng thời gửi khiếu nại tới nền tảng.
- Theo dõi trạng thái "Đang xử lý", "Đã hoàn thành xử lý" trên cổng thông tin của cơ quan kiểm chứng.
Các quy định mới có hiệu lực trong tháng 10 được tổng hợp tại chính sách mới tháng 10/2026.
Câu hỏi thường gặp
Nghị định 328/2026 có hiệu lực từ khi nào?
Từ ngày 05/10/2026 theo Điều 23. Nghị định được ban hành ngày 19/8/2026 và đăng Công báo số 497 ngày 03/9/2026.
Doanh nghiệp bị đăng tin sai sự thật có thể yêu cầu cơ quan nào xác minh?
Bộ, cơ quan ngang bộ hoặc UBND các cấp quản lý lĩnh vực liên quan. Điểm đ khoản 1 Điều 8 cho nạn nhân, tổ chức bị ảnh hưởng yêu cầu kiểm chứng, xác minh, làm rõ.
Bao lâu thì tin giả được gắn nhãn?
Trong 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền kết luận thông tin là tin giả, tin sai sự thật, theo điểm a khoản 4 Điều 10.
Mạng xã hội nước ngoài có phải gỡ tin giả không?
Có. Tổ chức cung cấp thông tin xuyên biên giới hoạt động tại Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho người dùng Việt Nam phải ngăn chặn, gỡ bỏ sau khi có nhãn, thông báo hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Có thể báo tin giả qua VNeID không?
Có. Khoản 2 Điều 13 cho phép báo tin, tố giác, phản ánh qua ứng dụng VNeID, đường dây nóng, cổng thông tin điện tử của cơ quan, liên hệ trực tiếp hoặc văn bản.
Tin giả do AI tạo ra có bị xử lý không?
Có. Điểm c khoản 2 Điều 10 đưa tin giả do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra, chưa được gắn nhãn, vào diện phải gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật.
